DÒNG SỰ KIỆN. * HỘI NGHỊ WEF ASEAN 2018 * HÀ NỘI SAU 10 NĂM MỞ RỘNG ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH * HÀ NỘI VỚI CHƯƠNG TRÌNH TRỒNG MỚI 1 TRIỆU CÂY XANH * AN TOÀN PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY

1.226 ứng viên đạt chuẩn GS, PGS năm 2017

Thuỷ Trúc
02-02-2018 14:37
Kinhtedothi - Hôm nay 2/2, Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước (HĐCDGSNN) thông tin về Kỳ họp lần thứ VII và xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh GS, PGS năm 2017. Đã có 1.226 ứng viên đạt tiêu chuẩn chức danh GS và PGS năm 2017.
Tin liên quan
Theo Văn phòng HĐCDGSNN, năm 2017, số ứng viên nộp hồ sơ tăng hơn năm trước, với tổng số là 1.537, trong đó 151 ứng viên GS và 1.386 ứng viên PGS. Số ứng viên đạt kết quả tại HĐCDGSNN là 1.226 người ( 91,17%), trong đó ứng viên GS 85 người (95,50%), ứng viên PGS 1.141 người (99,56%).
 Chủ tịch HĐCDGSNN Phùng Xuân Nhạ trao quyết định chức danh GS, PGS. Nguồn: Internet.
Qua ba cấp Hội đồng chức danh GS cơ sở, Hội đồng chức danh GS ngành, HĐCDGSNN, tổng số ứng viên đạt là 1.226 trên 1.537 (79,76%), trong đó ứng viên GS là 85/151 (56,29%), ứng viên PGS là 1.146/1.386 (82,68%).
Đặc biệt, năm 2017 số ứng viên có tuổi đời trung bình trẻ hơn các năm trước: GS 55 tuổi, PGS 45 tuổi.
Ứng viên GS trẻ nhất là Phạm Hoàng Hiệp (Viện Toán học, Viện Hàn lâm Khoa học & Công nghệ Việt Nam) 35 tuổi (sinh 1/3/1982), ngành Toán học.
Ứng viên PGS trẻ nhất là Đỗ Đức Thuận (Trường Đại học Bách khoa Hà Nội), 32 tuổi (sinh 28/9/1985), ngành Toán học.
Số ứng viên làm việc tại Hà Nội là 713 người (58,15%); TP Hồ Chí Minh 205 người (16,72%).
Một sự khác biệt, đó là số ứng viên nữ đạt tiêu chuẩn GS, PGS và số ứng viên đạt tiêu chuẩn GS, PGS các khu vực ngoài Hà Nội và TP Hồ Chí Minh nhiều hơn các năm trước.
Năng lực tiếng Anh của các ứng viên cũng tốt hơn các năm trước, nhất là những người trẻ. Tuy nhiên, ở một số hội đồng, năng lực ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh của các ứng viên còn hạn chế.
Một điều đáng mừng là số lượng các bài báo khoa học được công bố trên các tạp chí ISI và Scopus của các ứng viên tăng nhanh trong những năm gần đây, và năm 2017 là 5.316 bài. Cụ thể: Vật lí 1.177 bài, Hoá học – Công nghệ thực phẩm 1.027 bài, Y học 674 bài, Sinh học 597 bài… Các ứng viên một số ngành khoa học xã hội và nhân văn cũng đã có bài báo đăng trên các tạp chí ISI và Scopus….
Không những thế, một số ứng viên có nhiều bài báo quốc tế ISI/Scopus có chỉ số H cao, nhiều công trình được ứng dụng hiệu quả trong thực tế. Ví dụ: Nguyễn Quang Trường, ngành Sinh học có 160 bài; Nguyễn Thị Hồng Vân, ngành Vật lí 153 bài; Trần Đại Lâm, ngành Hoá học 114 bài, chỉ số H = 26,…
Theo HĐCDGSNN, nhiều ứng viên có đề tài nghiên cứu khoa học đã được ứng dụng và chuyển giao công nghệ, đã đem lại hiệu quả kinh tế, xã hội tốt.
Một số ứng viên được trao giải thưởng quốc tế có uy tín vì thành tích nghiên cứu khoa học và phục vụ cộng đồng. Đơn cử như: Nguyễn Thế Hoàng – Bệnh viện Trung ương quân đội 108, giải thưởng A.v.Humboldt, APKO, J.N Von Nussbaum của Đức; Nguyễn Thị Kim Tiến – Bộ Y tế, Huân chương Bắc đẩu Bội tinh của Pháp;…