DÒNG SỰ KIỆN. * CHÀO MỪNG ĐẠI HỘI LẦN THỨ XIII CỦA ĐẢNG * ĐẠI DỊCH COVID-19 * CUỘC THI VIẾT “BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN TP HÀ NỘI”

Bảo tồn cảnh quan, kiến trúc lưu giữ văn hóa làng cổ

11-01-2014 09:02
Kinhtedothi - Các làng cổ của Hà Nội đang được dư luận quan tâm ở thực trạng mai một các giá trị văn hóa truyền thống, ở thách thức của tốc độ đô thị hóa, ở sự thay đổi trong chính tư duy, nhu cầu của người dân. Số phận các làng cổ một phần còn được quyết định bởi các chủ trương, chính sách bảo tồn của Nhà nước và TP.
Chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với GS.TS.KTS Phạm Đình Việt - Chủ nhiệm Khoa Kiến trúc - Quy hoạch và Quản lý đô thị (ĐH Đông Đô), nguyên Phó Viện trưởng Viện Quy hoạch và Kiến trúc đô thị (ĐH Xây dựng) xung quanh vấn đề này.

 GS Phạm Đình Việt cho biết, từ năm 2003, ông cùng các cộng sự đã nghiên cứu tổng quan về một số làng dọc hai bờ sông Nhuệ và có một số nhận xét, đề xuất về việc bảo tồn, phát huy giá trị các làng cổ tại Hà Nội. Việc bảo tồn, phát huy phải căn cứ vào việc nhận diện làng cổ. Mà trên góc độ ngành kiến trúc, những yếu tố vật chất như cấu trúc không gian, cảnh quan, các công trình kiến trúc là một mặt cơ bản. Mặt thứ hai là các yếu tố phi vật thể như lối sống, tín ngưỡng, lễ hội… Các yếu tố này lại gắn liền với các yếu tố vật chất nêu trên.
Được biết, việc nghiên cứu trong thời gian dài đã giúp GS và cộng sự có một cơ sở để phân loại làng ở Hà Nội. GS có thể giới thiệu về sự phân loại đó?
Trong hội thảo "Bảo tồn và phát huy giá trị các làng cổ ở Hà Nội" tại Viện Bảo tồn di tích vừa qua, Phó Giám đốc Sở VHTT&DL Hà Nội Trương Minh Tiến cho biết, hiện Hà Nội có trên 60 làng được đề xuất đưa vào danh mục nghiên cứu, lựa chọn là làng cổ. Về phong cách kiến trúc qua hệ thống nhà ở dân dụng, có hai dạng khá rõ nét là các làng mang phong cách thuần Việt và có sự đan xen kiến trúc truyền thống với kiến trúc Pháp. Tại các làng này, lối sống, tư duy, trào lưu đô thị tràn về, người dân muốn đem mô hình, lối sống đô thị về làng, khiến cho cấu trúc không gian làng bị phá vỡ, thay đổi, làng dần biến thành phố.
- Một cách sơ bộ, chúng tôi phân ra có bốn loại: Làng chỉ còn có ý nghĩa cái tên vì trên thực tế nó đã thay đổi rất nhiều; làng nghề, có nghề truyền thống, còn phát huy được trong đời sống đương đại; làng truyền thống, có những nét riêng biệt lâu năm như có truyền thống học tập, nhiều người đỗ đạt, hoặc truyền thống đóng góp nhiều cho đất nước; làng cổ, là làng trên 100 năm tuổi, còn lưu giữ được những nét đặc trưng cổ xưa như hình thái cấu trúc làng, các công trình như đình, chùa, nhà ở dân gian qua các giai đoạn lịch sử.

GS nhận xét thế nào về ý nghĩa không gian cảnh quan đối với sự tồn tại của các làng cổ?

- Chúng ta đều biết, cảnh quan đô thị và nông thôn khác nhau rất nhiều. Nói đến làng quê là nói về lũy tre, cổng làng, giếng nước, bến nước… Chúng gắn với đời sống, người nông dân, với thiên nhiên, ruộng đồng. Trong nét chung của làng quê Việt, cảnh quan của các làng cũng có những nét riêng độc đáo. Ví dụ có làng xây cổng kiểu này, có làng tạo dáng, trang trí thế khác, có làng trồng cây đa, có làng trồng cây gạo… Nói chung cứ nhắc đến làng quê là những hình ảnh đó hiện lên rất thân thiết.

Vậy nếu các không gian, cảnh quan đó bị phá hoại, chắc chắn các di sản, đời sống văn hóa tồn tại trong đó cũng khó lòng bảo toàn được?

- Điều này thì đúng rồi! Vì sinh hoạt của người nông dân gắn với cảnh quan, không gian làng quê rất nhiều. Ví dụ như lễ rước, người ta rước từ sân đình, rước qua đường làng, cổng làng đi bên lũy tre xanh… Bây giờ phố hóa, xây dựng hết, không còn những con đường, công trình đó thì ý nghĩa của các hoạt động nghi lễ, văn hóa cũng suy giảm đi đáng kể.
GS.TS.KTS Hoàng Đạo Kính cho rằng, để làng cổ vẫn được phát triển tiếp nối thì đồng thời với bảo tồn là công tác sửa chữa và có những phần hiện đại hóa, bởi làng phải sống là một lẽ đương nhiên. Như vậy, một làng cổ phải giữ được cái đã có và đang có trong mối cộng sinh hài hòa. Theo GS Kính, cần một hệ thống chính sách với những biện pháp như: Nhà nước mua lại để bảo tồn nguyên trạng những ngôi nhà thật sự tiêu biểu, điển hình; cho phép cải tạo các nhà khác để thích ứng với nhu cầu người dân; nhà xây phải có thiết kế phù hợp với cảnh quan chung; giữ gìn các khuôn viên, không gian công cộng và quan trọng là điều tiết cảnh quan không gian, hình thái chuyển tiếp của làng.
Nhưng trong bối cảnh phát triển như hiện nay, việc giữ được những không gian, cảnh quan thoáng đãng, rộng rãi, nhiều mặt nước, cây xanh cùng những công trình kiến trúc truyền thống của làng quê quả là khó. Theo GS, cần có có những biện pháp cụ thể nào cho sự bảo tồn, giữ gìn những yếu tố này?

- Giải pháp cụ thể để áp dụng cho tất cả là khó, mà phải nghiên cứu trong từng trường hợp cụ thể một. Với cảnh quan, không gian làng quê, trong bối cảnh hiện nay, không thể giữ gìn, khôi phục được 100% mà đạt được 60% đã là rất tốt rồi! Bây giờ làng đang chịu sức ép của gia tăng dân số, của nhu cầu phát triển, người ta xây dựng nhiều để ở, để buôn bán, làm ảnh hưởng đến các không gian công cộng, các công trình truyền thống. Nhà nước phải dành ra một phần đất cho việc bảo tồn. Ví dụ như phải giữ hoặc khôi phục cho các cổng làng được độ thông thoáng, phải dẹp những nhà xâm lấn xung quanh. Việc này phải thực hiện cụ thể đối với từng cổng làng truyền thống, để còn xem đền bù thế nào, lấy lại không gian cũ ra sao…

Ta nên tham khảo cách làm của Nhật Bản, việc bảo tồn dựa vào cộng đồng rất lớn. Cộng đồng có sự tự hào và tự động chăm chút di sản. Từ sự hiểu biết và tự hào nhờ tuyên truyền, cộng đồng sẽ tự đề xuất các làng, các khu vực của làng cần được bảo tồn. Và Nhà nước sẽ phối hợp nghiên cứu bài bản, thông tin đầy đủ, minh bạch về các dự án cần thực hiện.

Có cần xây dựng bộ tiêu chuẩn về kỹ thuật để áp dụng cho việc bảo vệ các công trình, cảnh quan của làng quê không, thưa GS?

- Với bảo tồn thì không thể có tiêu chuẩn áp đặt chung vì mỗi công trình có những nét riêng. Nhưng phải có những nguyên tắc chung được tuân theo. Ví dụ như tôn trọng tính gốc và những đóng góp đối với công trình theo thời gian lịch sử. Làm bảo tồn mà không dựa theo những nguyên tắc chung thì sẽ không còn là bảo tồn nữa, mà sẽ thành xây dựng mới. Chia sẻ thêm về kinh nghiệm của Nhật Bản thì phải xây dựng được bản đồ làng cổ trên toàn TP để từ đó từng bước xếp hạng, tiến tới xây dựng các cấp độ bảo tồn khác nhau cho các làng cổ.

Theo GS, với việc bảo tồn làng cổ rất cấp bách hiện nay, cơ quan nào cần đứng ra thực hiện vai trò, trách nhiệm chính?

- Trách nhiệm chính là của Sở VHTT&DL! Nhưng như ở một số nước, trong công việc này, cơ quan văn hóa, bảo tồn kết hợp thường xuyên với các trường đại học, vì các trường có đội ngũ cán bộ, sinh viên, nhìn chung là nhân lực dồi dào. Họ sẽ nghiên cứu để đề ra được giải pháp, còn các cơ quan quản lý sẽ làm tiếp. Chúng tôi rất muốn có sự cộng tác như thế, các chuyên gia, sinh viên của trường sẽ tham gia, đóng góp được nhiều hơn bằng chuyên môn của mình.

Vừa qua HĐND TP Hà Nội có thông qua danh mục di tích, di sản phi vật thể, biệt thự cần tập trung ưu tiên bảo tồn, trong đó riêng về làng cổ, chỉ có mỗi làng cổ Đường Lâm được chọn. Có nhiều ý kiến khác nhau về chọn lựa này. Riêng GS có nhận xét gì?

- Bảo tồn là một việc cực kỳ khó! Và còn tốn kém nữa! Cho nên bước đầu chọn bảo tồn một đối tượng làng cổ là Đường Lâm, làm tốt, rút kinh nghiệm để thực hiện cho các làng khác thì cũng là đúng đắn. Phải làm tốt, làm mẫu với một làng để với làng khác còn tiếp tục làm theo. Chứ nếu cứ triển khai nhiều, làm cho nó… ngổn ngang, rắc rối ra thì đi giải quyết hậu quả cũng khó!

Xin cảm ơn GS!

 
TIN CÙNG CHUYÊN MỤC
TAG: