DÒNG SỰ KIỆN. * KỲ HỌP THỨ 11 - HĐND TP HÀ NỘI KHÓA XV * KỲ HỌP THỨ 8, QUỐC HỘI KHÓA XIV * TOÀN CẢNH VỤ NƯỚC SẠCH Ở HÀ NỘI CÓ MÙI LẠ * KỶ NIỆM 65 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG THỦ ĐÔ * HÀ NỘI - 20 NĂM “THÀNH PHỐ VÌ HÒA BÌNH” * AN TOÀN PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY

Bộ TN&MT giải trình trước Quốc hội về đề xuất lùi thời gian thu cấp quyền khai thác khoáng sản và tài nguyên nước

Hà Ánh
01-11-2019 22:34
Kinhtedothi - Chiều 1/11, Quốc hội đã thảo luận và cơ bản thống nhất đề nghị của Chính phủ về việc cho lùi thời gian thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, khai thác tài nguyên nước, để vừa tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho người dân.
Tin liên quan

 Bộ trưởng Trần Hồng Hà giải trình với Quốc hội chiều 1/11. Ảnh: Quốc Khánh
Giải trình trước Quốc hội về vấn đề nêu trên, Bộ trưởng Bộ TN&MT Trần Hồng Hà đã chỉ ra những nguyên nhân chủ quan và khách quan Chính phủ chậm ban hành các Nghị định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, khai thác tài nguyên nước.
Về nguyên nhân chủ quan, Bộ trưởng cho biết, theo quy định của Luật Khoáng sản, các thông số tính tiền là trữ lượng và chất lượng của từng mỏ, từng loại khoáng sản. Tại thời điểm xây dựng Nghị định có hơn 400 Giấy phép khai thác khoáng sản (thuộc thẩm quyền cấp phép của Trung ương) và gần 4.000 Giấy phép (thuộc thẩm quyền cấp phép của địa phương) đã cấp qua nhiều thời kỳ (có mỏ cấp phép trước đó 50 năm) theo nhiều cơ chế, quy định quản lý khác nhau.
Do đó, khi hoàn thiện phương pháp tính, mức thu gặp khó khăn do phải mất nhiều thời gian, nguồn lực để khảo sát, thăm dò đánh giá lại trữ lượng cho các giấy phép không có trữ lượng (thường từ 2- 3 năm) nhằm bao quát được tính phức tạp, đa dạng của nhiều loại giấy phép. 
Bộ trưởng Trần Hồng Hà cũng khẳng định việc lùi thời hạn thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản là hợp lý, bởi vì trong thực tế, Luật Khoáng sản không quy định về hồi tố mà chỉ quy định từ khi luật này ban hành thì sau khi có đánh giá trữ lượng (thường mất khoảng 3 đến 5 năm).
“Bởi vậy, lùi thời hạn thu thì dựa trên tổng trữ lượng và được phân kỳ ra thu lần thứ nhất, thứ hai, thứ ba. Như vậy, nó không ảnh hưởng gì đến việc chúng ta lùi một, hai năm mà vẫn thu trên tổng số lượng đó” - Bộ trưởng Trần Hồng Hà giải thích.
Bên cạnh đó, theo quy định của Luật Tài nguyên nước, các thông số tính tiền là chất lượng của nguồn nước, loại nguồn nước, điều kiện khai thác, quy mô, thời gian khai thác, mục đích sử dụng nước của từng công trình khai thác. Mà luật quy định chỉ tính tiền đối với một số hoạt động khai thác tài nguyên nước có lợi thế như: thủy điện, khai thác nước để cấp cho một số hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ..., nhưng không tính tiền đối với nước tưới cho nông nghiệp, cấp nước sinh hoạt của nhân dân. Bộ trưởng Bộ TN&MT cho rằng, nếu cho lùi thời hạn hay miễn tiền cấp quyền thì người dân sẽ được hưởng.
Vì vậy, khi xây dựng phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước mất nhiều thời gian để nghiên cứu kỹ lưỡng, bảo đảm tính khả thi, tránh gây tác động lớn, nhất là tác động đến giá điện, giá nước sạch, trong bối cảnh lạm phát gia tăng và kinh tế vĩ mô thiếu ổn định.
Về nguyên chủ qua, Bộ trưởng Trần Hồng Hà cho hay một trong những nguyên nhân Chính phủ chậm ban hành hai Nghị định trên là do giai đoạn 2011-2016 có tình trạng “quá tải” xây dựng văn bản pháp luật với số lượng gần 500 các văn bản dưới luật, nghị định và hơn 100 bộ luật. 

Mặt khác chính sách thu tiền cấp quyền khai thác mỏ là một chính sách mới, lại được đưa ra trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, ngành khai thác khoáng sản bị ảnh hưởng, nhiều doanh nghiệp gặo khó khăn, bị phá sản nên thời điểm đó, Quốc hội cũng khẳng định là cần phải có chính sách để “khoan dân”...

Bộ trưởng Trần Hồng Hà cũng cho biết, thời điểm Bộ TN&MT tổ chức các hội nghị, hội đánh giá về chính sách để ban hành nghị định thì có nảy sinh vấn đề “thuế chồng thuế”, vì bản chất thu cấp quyền khai thác tài nguyên cũng là một loại thuế...