DÒNG SỰ KIỆN. * KỲ HỌP THỨ 8, QUỐC HỘI KHÓA XIV * TOÀN CẢNH VỤ NƯỚC SẠCH Ở HÀ NỘI CÓ MÙI LẠ * KỶ NIỆM 65 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG THỦ ĐÔ * HÀ NỘI - 20 NĂM “THÀNH PHỐ VÌ HÒA BÌNH” * AN TOÀN PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY

Gỡ khó cho rau an toàn

Ngọc Ánh
23-10-2019 08:50
Kinhtedothi - Thời gian qua, mặc dù năng suất, sản lượng rau an toàn (RAT) của Hà Nội đã tăng rõ rệt, song công tác quản lý đầu vào và chất lượng sản phẩm còn không ít bất cập, nông dân vẫn loay hoay tìm đầu ra cho RAT.
Sản xuất, tiêu thụ đều gặp khó
Theo số liệu của Sở NN&PTNT Hà Nội, hiện toàn TP có hơn 5.000ha (RAT) được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện ATTP, hơn 300ha rau đạt tiêu chuẩn VietGAP và hàng trăm héc ta trồng rau hữu cơ. Hiệu quả kinh tế từ trồng RAT trung bình đạt 400 - 600 triệu đồng/ha/năm, cao gấp nhiều lần so với cấy lúa.
 Sơ chế, đóng gói RAT tại HTX Kinh doanh dịch vụ nông nghiệp Văn Đức (huyện Gia Lâm).
Ở các vùng trồng được che phủ nilon, trồng trong nhà lưới hoặc trồng rau trái vụ có giá trị sản xuất đạt 1 tỷ đồng/ha/năm, cao hơn trồng rau theo phương pháp truyền thống 10 - 20%. Để quản lý chất lượng RAT, hàng năm, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (BVTV) Hà Nội đều mở lớp tập huấn nâng cao trình độ cho người dân trong việc sử dụng thuốc BVTV sinh học, nhờ đó nâng tỷ lệ sử dụng thuốc thảo mộc, sinh học lên 60%.
Ngoài ra, mỗi năm, Chi cục đều lấy 300 - 1.000 mẫu rau xét nghiệm, kết quả, chỉ có khoảng 1 - 2% mẫu vượt dư lượng thuốc BVTV.
Tuy nhiên, theo Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và BVTV Hà Nội Nguyễn Mạnh Phương, mặc dù TP có chính sách đầu tư hạ tầng cho các vùng RAT tập trung nhưng chưa phát huy hiệu quả sau đầu tư. Trong khi đó, quản lý sản xuất RAT còn bất cập do số hộ trồng rau xanh quá lớn (hơn 200.000 hộ). Ngoài ra, trên địa bàn TP vẫn còn khoảng 7.000ha rau chưa được chứng nhận đủ điều kiện ATTP.
Không chỉ khó khăn ở khâu sản xuất, đầu ra cho sản phẩm cũng còn gian nan. Đơn cử như huyện Đông Anh, có 800ha sản xuất RAT tập trung ở các xã: Vân Nội, Tiên Dương, Nam Hồng, Bắc Hồng… với sản lượng 20.000 tấn RAT/năm. Tuy nhiên, nông dân mới tiêu thụ được khoảng 30% tại các cửa hàng, siêu thị, bếp ăn tập thể. Số còn lại bán qua thương lái hoặc chợ đầu mối với giá như rau thường.
Nâng chất lượng, đa dạng kênh tiêu thụ
Nhằm từng bước tháo gỡ khó khăn trong sản xuất, tiêu thụ RAT, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Hà Nội Nguyễn Xuân Đại cho biết, Sở đang tiếp tục hỗ trợ thực hiện một số mô hình áp dụng công nghệ cao, tập huấn nâng cao năng lực sản xuất, quản trị cho nông dân.
Cùng với đó, Sở phối hợp với các địa phương chú trọng đẩy mạnh hình thành chuỗi giá trị trong liên kết sản xuất - tiêu thụ rau như: Phát triển các quầy bán RAT tại các chợ, siêu thị; duy trì một số chợ quy mô nhỏ để thuận tiện cho việc tiêu thụ RAT ở các vùng sản xuất quy mô lớn nằm xa chợ đầu mối.
Ngoài ra, Sở đang phối hợp với sở, ngành liên quan tổ chức phát triển mạng lưới tiêu thụ RAT theo các hình thức bố trí quầy RAT tại các khu dân cư, hỗ trợ mở quầy bán RAT tại các chợ khu vực nội thành song hành cùng các siêu thị.
Về quản lý chất lượng, Chi cục Trồng trọt và BVTV Hà Nội tiếp tục chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật về phòng trừ sâu bệnh theo hướng giảm thiểu sử dụng thuốc BVTV. Đặc biệt, ưu tiên phát triển chuỗi sản xuất, tiêu thụ RAT truy xuất nguồn gốc đến từng hộ gắn với hệ thống bảo đảm có sự tham gia của người sản xuất, người kinh doanh và người tiêu dùng. Năm 2019, Chi cục tiếp tục duy trì 25 mô hình giám sát cộng đồng (PGS), đồng thời khuyến khích các địa phương nhân rộng với kỳ vọng có hơn 80% diện tích trồng RAT của Hà Nội được kiểm soát chặt chẽ ngay từ vùng sản xuất vào năm 2020.
Ngoài ra, Chi cục phối hợp với các lực lượng chức năng tăng cường kiểm tra việc kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV, vệ sinh ATTP và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm; đẩy mạnh tuyên truyền vận động người dân sử dụng thuốc BVTV theo nguyên tắc “4 đúng” để sản phẩm bảo đảm chất lượng khi cung ứng ra thị trường.

Hà Nội đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, duy trì 5.100ha trồng RAT, hiệu quả kinh tế đạt từ 500 triệu - 1 tỷ đồng/ha/năm; phát triển thêm 3.000 - 4.000ha rau được chứng nhận đủ điều kiện ATTP; bảo đảm 100% sản phẩm rau xanh được truy xuất nguồn gốc và ATTP.