DÒNG SỰ KIỆN. * KỲ HỌP THỨ 8, QUỐC HỘI KHÓA XIV * TOÀN CẢNH VỤ NƯỚC SẠCH Ở HÀ NỘI CÓ MÙI LẠ * KỶ NIỆM 65 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG THỦ ĐÔ * HÀ NỘI - 20 NĂM “THÀNH PHỐ VÌ HÒA BÌNH” * AN TOÀN PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY

[Hỏi-đáp] Lập vi bằng cho anh trai mượn nhà có được không?

Luật sư Nguyễn Hồng Quang - Đoàn Luật sư Hà Nội
14-06-2019 09:18
Kinhtedothi - "Tôi và anh trai đứng tên chung một căn nhà do cha mẹ để lại. Sau đó tôi lập vi bằng cho anh mượn nhà thì thông qua vi bằng đó anh có thể sang tên ngôi nhà được không? Hiện tôi vừa qua Vương quốc Anh sinh sống nhưng vẫn còn quốc tịch Việt Nam. Sau khi lập vi bằng, anh tôi muốn bán nhà có cần tôi đồng ý không?" - Nguyễn Phương Uyên, quận Hà Đông, Hà Nội
Trả lời:
Thứ nhất, vi bằng là văn bản do thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng là chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác. Vi bằng chỉ ghi nhận những sự kiện, hành vi mà thừa phát lại trực tiếp chứng kiến; việc ghi nhận phải khách quan, trung thực.
Thứ hai, vấn đề sang tên nhà: Căn cứ thông tin bạn cung cấp thể hiện bạn chỉ làm vi bằng chứ chưa lập hợp đồng chuyển nhượng hay tặng cho quyền sử dụng đất. Do đó có thể xảy ra hai trường hợp như sau:
Trường hợp 1: Sau khi lập vi bằng, bạn tiến hành thủ tục tặng cho hoặc chuyển nhượng phần quyền sử dụng đất của mình cho anh trai của bạn để sang tên ngôi nhà cho anh bạn thì mảnh đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của anh bạn. Khi đó, anh bạn có đầy đủ các quyền của người sử dụng đất theo quy định tại Điều 167 Luật Đất đai. Khi đó, anh bạn có quyền chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất mà không cần sự đồng ý của bạn.
Trường hợp 2: Bạn và anh trai chỉ lập vi bằng về việc cho anh bạn mượn phần quyền sử dụng đất của bạn thì đây không phải là căn cứ để xác lập giao dịch dân sự về tặng cho hoặc chuyển nhượng đất. Do đó, bạn vẫn được xác định là đồng chủ sở hữu hợp pháp đối với mảnh đất và tài sản gắn liền với đất. Việc bạn là người Việt Nam định cư ở nước ngoài không hạn chế quyền đối với bất động sản ở Việt Nam theo quy định tại Điều 8 Luật Nhà ở và Điều 186 Luật Đất đai.
Theo Điều 209 Bộ luật Dân sự, có thể xác định sở hữu chung của anh em bạn là sở hữu chung theo phần. Bạn và anh bạn có quyền, nghĩa vụ tương ứng với phần quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở hợp pháp của mình. Và nếu anh bạn muốn chuyển nhượng đất, tài sản gắn liền với đất thì chỉ được chuyển nhượng phần tài sản thuộc quyền sử dụng hợp pháp của anh bạn. Và trong trường hợp này, nếu anh bạn muốn bán nhà đất thì bạn sẽ được quyền ưu tiên mua theo quy định tại Khoản 3 Điều 218 Bộ luật Dân sự.
Do đó, nếu anh bạn muốn bán toàn bộ mảnh đất và ngôi nhà thì cần phải có sự đồng ý của bạn.
Câu hỏi bạn đọc xin gửi về địa chỉ: Báo Kinh tế & Đô thị, số 21 Huỳnh Thúc Kháng, quận Đống Đa, Hà Nội; Email: bandoc@ktdt.com.vn