DÒNG SỰ KIỆN. * KỲ HỌP THỨ 11 - HĐND TP HÀ NỘI KHÓA XV * KỲ HỌP THỨ 8, QUỐC HỘI KHÓA XIV * TOÀN CẢNH VỤ NƯỚC SẠCH Ở HÀ NỘI CÓ MÙI LẠ * KỶ NIỆM 65 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG THỦ ĐÔ * HÀ NỘI - 20 NĂM “THÀNH PHỐ VÌ HÒA BÌNH” * AN TOÀN PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY

HoREA kiến nghị 3 khung giá đất riêng cho TP Hồ Chí Minh

TIỂU THÚY
12-11-2019 16:14
Kinhtedothi - HoREA vừa có văn bản gửi Thủ tướng, Bộ Tài nguyên và Môi trường và UBND TP Hồ Chí Minh góp ý về khung giá đất giai đoạn 2019 - 2024.
Để khắc phục sự bất hợp lý của khung giá đất hiện nay và phù hợp hơn với tình hình thực tiễn của các địa phương, thì cần quy định khung giá đất riêng cho TP Hồ Chí Minh, theo văn bản số 116 của Hiệp hội Bất động sản TP Hồ Chí Minh (HoREA) góp ý về việc sửa đổi khung giá đất giai đoạn 2019-2024.
 HoREA đề xuất tăng gấp đôi trần khung giá đất
Cụ thể, HoREA cho rằng khung giá đất ở tại các đô thị, đặc biệt là Hà Nội và TP Hồ Chí Minhcòn nhiều hạn chế, dẫn đến tình trạng giá đất trong Bảng giá đất chỉ bằng 30 - 50% giá thực tế.
Theo quan điểm của HoREA, các khung giá đất hiện hành không đảm bảo được nguyên tắc định giá đất phải phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường nên cần phải nâng mức trần giá đất lên. Bảng kiến nghị tập trung đề cập đến 3 phương án điều chỉnh khung giá đất cho TP với điểm chung là giữ nguyên khung giá tối thiểu và tăng mức giá trần ở nhiều biên độ khác nhau.
Chỉ ra sự bất cập của khung giá đất, HoREA dẫn khoản 3 điều 18 Nghị định 44/2014 quy định: “Hàng năm, ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định hệ số điều chỉnh giá đất…”. Quy định này dẫn đến tình trạng giá đất trong bảng giá đất của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phổ biến chỉ bằng khoảng 30-50% giá đất thực tế trên thị trường.
Theo HoREA, hiện nay việc phân chia vùng kinh tế quá rộng, chưa hợp lý, mà lẽ ra nên phân chia nhiều vùng hơn, mỗi vùng bao gồm các tỉnh có đặc điểm tương đồng. Ví dụ, vùng đồng bằng sông Cửu Long, lẽ ra cần phân chia thành vùng đồng bằng Bắc sông Hậu và vùng đồng bằng Nam sông Hậu hoặc có thể cân nhắc thêm vùng Đồng Tháp Mười.
Bên cạnh đó, quy định khung giá đất của 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội, TP có mức giá như nhau là không hợp lý và không phù hợp với tình hình thực tiễn, đặc thù và sự khác biệt của hai TP này.
Trong lúc chưa sửa đổi Luật Đất đai 2013, HoREA đề xuất Chính phủ ban hành khung giá đất (mới) áp dụng cho giai đoạn 2019-2024, vì khung giá đất hiện nay sẽ hết hiệu lực ngày 29/12/2019.
Trong đó, HoREA đề xuất phân thành 12 vùng, để tính khung giá đất. Đối với 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội, TP đề nghị quy định khung giá đất riêng.
Riêng tại TP Hồ Chí Minh, HoREA đề xuất 03 phương án xây dựng khung giá đất (mới):
Phương án 1: Giữ nguyên mức giá tối thiểu; tăng khoảng gấp đôi mức giá tối đa so với hiện tại.
Theo phương án 1, khi đó:
Khung giá đất ở: giá tối thiểu: 1,5 triệu đồng/m2; giá tối đa: 330 triệu đồng/m2.
Khung giá đất thương mại, dịch vụ: giá tối thiểu: 1,2 triệu đồng/m2; giá tối đa 260 triệu đồng/m2.
Khung giá đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải là đất thương mại, dịch vụ: giá tối thiểu: 900 nghìn đồng/m2; giá tối đa 200 triệu đồng/m2.
Theo phương án 1 và căn cứ Nghị định 44/2014, TP có thể quy định bảng giá đất với mức giá đất cao hơn nhưng không quá 30% so với khung giá đất. Như vậy, giá đất ở tối đa 429 triệu đồng/m2; giá đất thương mại, dịch vụ tối đa 338 triệu đồng/m2; giá đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp tối đa 260 triệu đồng/m2.
Khi áp dụng hệ số điều chỉnh giá đất hàng năm như hệ số khu vực 1(các quận trung tâm) năm 2019 là 2,5 lần thì giá đất tương ứng để thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước sẽ là: giá đất ở tối đa 1,072 tỉ đồng/m2; giá đất thương mại, dịch vụ tối đa 845 triệu đồng/m2; giá đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp tối đa 650 triệu đồng/m2.
Phương án 2: Giữ nguyên mức giá tối thiểu; tăng khoảng gấp rưỡi mức giá tối đa so với hiện tại.
Theo phương án 2, giá đất ở tối đa là 319,8 triệu đồng/m2; giá đất thương mại, dịch vụ tối đa 253,5 triệu đồng/m2; giá đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp tối đa 192,4 triệu đồng/m2.
Khi áp dụng hệ số điều chỉnh giá đất hàng năm, khu vực 1 năm 2019 là 2,5 lần thì giá đất tương ứng để thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước đối với đất ở tối đa là 799,5 triệu đồng/m2; giá đất thương mại, dịch vụ tối đa 633,7 triệu đồng/m2; giá đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp tối đa 480 triệu đồng/m2.
Phương án 3: Giữ nguyên mức giá tối thiểu; tăng khoảng 1/3 mức giá tối đa so với hiện tại.
Theo phương án 3, khi áp dụng hệ số điều chỉnh giá đất hàng năm giá sẽ ở mức hợp lý, HoREA cho biết. Ví dụ, hệ số khu vực 1 năm 2019 là 2,5 lần thì giá đất tương ứng để thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước tương ứng: giá đất ở tối đa 700 triệu đồng/m2; giá đất thương mại, dịch vụ tối đa 559,7 triệu đồng/m2; giá đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp tối đa 419,7 triệu đồng/m2.
Trong ba phương án mà HoREA đề xuất thì phương án 1 có mức giá quá cao, không phù hợp với giá thị trường trong điều kiện bình thường, sẽ tác động đẩy giá thị trường bất động sản lên cao. Vì thế, HoREA đề xuất chọn phương án 3 vì có mức giá hợp lý nhất. Nếu trong trường hợp Chính phủ cân nhắc các yếu tố vĩ mô mà không thể lựa chọn phương án 3, thì có thể xem xét lựa chọn phương án 2, không nên lựa chọn phương án 1.