DÒNG SỰ KIỆN. * KỲ HỌP THỨ 15 - HĐND TP HÀ NỘI KHÓA XV * HÀ NỘI 2020 - HỢP TÁC ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN * GÓP Ý DỰ THẢO VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XVII ĐẢNG BỘ TP HÀ NỘI * ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ CÁC CẤP VÀ ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG * ĐẠI DỊCH COVID-19

Không chỉ nên nghĩ “Tháng Bảy là tháng cô hồn”

Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Hùng Vĩ
05-09-2017 14:11
Kinhtedothi - Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, tháng Bảy âm lịch được dân gian coi là “tháng cô hồn”.
Lễ Tiết quỷ (có nguồn gốc và chịu ảnh hưởng của Đạo giáo Trung Hoa) quan niệm rằng, mỗi năm Diêm Vương lại cho mở Quỷ môn quan từ ngày mùng Hai tới Rằm tháng Bảy âm lịch để quỷ đói được trở lại cõi trần. Vì vậy người ta mới phải cúng cháo, muối... cho chúng để chúng không quấy rối người dương. Thế nhưng, kinh Phật thì lại cho rằng, tháng Bảy âm lịch là tháng để người ta thể hiện lòng hiếu kính với bậc sinh thành chứ không phải là “tháng cô hồn” như mọi người vẫn nghĩ.
Tục báo hiếu tháng Bảy ít nhất có từ thời Trần
Ba chữ “Vu lan bồn” nghĩa Hán dịch là Đảo huyền, nghĩa tiếng Việt là Treo ngược. Tín ngưỡng Vu lan bồn có từ văn hóa cổ xưa của Ấn Độ, trước cả khi Phật giáo ra đời. Trong sử thi cổ đại Mahabharata người ta đọc thấy nhiều lần nhắc tới việc hành lễ Vu lan bồn rồi. Như vậy, Phật giáo đã tiếp thu nền tảng tín ngưỡng đó và điển phạm hóa thành pháp hội và ghi thành truyền thuyết Mục Kiền Liên cứu mẫu. Mục Kiền Liên là đệ tử bậc nhất của đức Phật, người đã từng cùng đức Phật đi giảng đạo, ông tu hành đạt đến Đại A la hán. Mục Liên dùng thiên nhãn của mình thấy được mẹ bị đầy xuống cõi Diêm phù làm kiếp Ngạ quỉ, đau khổ, đói khát. Thương mẹ, ông đưa thức ăn nhưng đến miệng lại hóa ra lửa. Ông cầu đức Phật bày cho cách cứu mẹ. Đức Phật dạy đến Rằm tháng Bảy, mùa chư tăng tự tứ (hết hạ) thì làm năm trăm mâm cỗ cung dưỡng 10 phương. Ông làm vậy và mẹ ông, bà Thanh Đề, xả hết 10 tội bà mắc khi tại thế để lên được cõi trời Đâu Suất. Từ đó mà có pháp hội Vu lan bồn. Vì bà Thanh Đề có hai tư cách: làm Mẹ và làm Ngạ quỉ nên cứu mẹ cũng là cứu Ngạ quỉ, điều này là quan trọng khi hiểu chữ Hiếu trong đạo Phật nói chung.

Lễ Vu lan tại chùa Ninh Tảo, tỉnh Hà Nam ngày 2/9. Ảnh: Hùng Thập

Ở phương Đông, trên đất Trung Hoa, theo truyền thuyết, thời nhà Lương đã mở hội Vu lan bồn để báo ân đức cha mẹ tổ tiên, sau đó nhà Đường thì phát triển mạnh mẽ ra chốn dân gian. Ở Việt Nam, chắc thời Bắc thuộc cũng đã hành lễ nhưng sách vở ít ghi lại. Thời Trần chắc chắn đã có lễ vì trong bài tựa sách Khóa hư lục, Trần Thái Tông đã mở đầu thiết tha bằng nỗi thương cha nhớ mẹ mà tìm đến đạo khóa hư.
Ảnh hưởng đậm đà của Nho giáo mà trong pháp hội Vu lan, người ta trọng chữ hiếu với cha mẹ và tổ khảo bảy đời. Điều đó là đúng trọng tâm nhà Phật nhưng chưa đủ, mà có phần hẹp hòi. Để báo hiếu cha mẹ, người ta thực hành 2 loại hiếu theo lời Phật dạy là “Hiếu thế gian” và “Hiếu xuất thế gian”. Hiếu thế gian là cung dưỡng cha mẹ cơm ăn, nước uống, chỗ ở nơi nằm, chữa bệnh thuốc thang, tiện nghi sử dụng... Hiếu xuất thế gian là đưa cha mẹ vào lễ nghi giáo hóa, đi chùa đi chiền, bỏ điều ác làm điều thiện để khi chết được siêu sinh tịnh độ.
Chữ Hiếu nhà Phật không những sâu sắc mà còn hết sức quảng bác. Đức Phật đi hành giáo, gặp đống xương khô thì tỏ lòng xót thương mà nói, đây chính là cha mẹ ta. Đạo Phật dạy chí lí là: Chúng sinh trong lục đạo đều là cha mẹ ta. Lục đạo là sáu thế giới gồm Địa ngục, Ngạ quỉ, Súc sinh, A tu la, Người và Trời. Chúng ta là CON (về thể chất và tinh thần) của chúng sinh lục đạo đó. Vậy, con với cha mẹ thì phải hiếu. Thành thử người ta cúng cô hồn (A trà tì, một loại chúng sinh trong Ngạ quỉ), Người ta phóng sinh (chúng sinh trong Súc sinh), người ta thực hành kiêng kị trong mùa là để khỏi xâm phạm chúng sinh - cha mẹ ta. Đó cũng là Hiếu hạnh vậy. So với cái “Tam bất hiếu” của Nho giáo trong Lễ kí và trong Mạnh Tử thì chữ Hiếu trong Phật giáo quảng đại thần thông hơn nhiều. Tuy một mà muôn, tuy muôn mà một.
Ngày nay nghi lễ vướng lỗi lầm
Thời nào, nơi đâu cũng “người ba đấng, của ba loài” cả. Người ta nhận thức, hành động là theo kì vọng của mình và có tính mục đích. Kì vọng và mục đích mà là Tham, Sân, Si thì đó là tai họa, nghiệp chướng của giá trị văn hóa. Còn hướng đến Phật tâm, Phật hạnh thì luôn luôn tốt đẹp. Rất tiếc là trong thời buổi hiện nay, một bộ phận không nhỏ, từ nghi lễ đến tu hành đều vướng vào lầm lỗi. Chiếm biển nước người, mút dầu ruột đất cho hết, cho cạn kiệt để thỏa tính “hiếu đại”, ganh đua tăng trưởng, phô phang tiện nghi hơn người thì lễ lạt mà làm gì. Còn những người hướng đến hòa bình xanh, đến bảo tồn đa dạng sinh thái, văn hóa thì trở nên yếu ớt. Ông Nguyễn Duy kêu lên trong thơ rằng: “Người tốt nhiều hơn sao kẻ xấu mạnh hơn. Những người tốt ta cần liên hiệp lại...” là ông ấy ngấm Phật.
Nho giáo, vốn là đạo dạy cho đàn ông làm quan, nên chữ Hiếu thật bó buộc. Còn chữ hiếu Phật giáo từ Hiếu thuận mở rộng đến Hiếu sinh cho muôn vật trong vũ trụ này. Các vua sáng đời Trần, vốn dùng Nho để quản trị quốc gia, khi uyên thâm Phật học, họ ngấm Hiếu đạo sâu sắc nên hướng về tu hành. Đó cũng là điều đáng để suy ngẫm.
Hiếu tâm là Phật tâm, Hiếu hạnh là Phật hạnh vậy. Đó chẳng là bài học nhãn tiền sao?! Đạo Phật bao dung, tùy hoàn cảnh mà hành lễ, lấy cái tâm hưỡng nguồn, hướng thiện làm chính. Trước hết ta tặng bằng sự sám hối của lòng mình. Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bể, con nuôi cha mẹ kể tháng kể ngày. Cái sự đời đó thì cần sám hối. Ta tặng cha mẹ bằng sự cố gắng và tử tế của lối sống của chúng ta với tất cả mọi người, cả thế gian và thiên nhiên. Mỗi năm một kì lễ Vu lan để ngày kỉ niệm, ngày nhắc nhớ cội nguồn và để báo hiếu.