DÒNG SỰ KIỆN. * CHÀO MỪNG ĐẠI HỘI LẦN THỨ XIII CỦA ĐẢNG * ĐẠI DỊCH COVID-19 * CUỘC THI VIẾT “BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN TP HÀ NỘI”

Kinh tế thị trường phải có nguyên tắc

21-03-2015 09:41
Kinhtedothi - “Nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) tức là nền kinh tế vận hành theo các quy luật của thị trường là yếu tố có tính tổng quát, định hướng XHCN là tính đặc thù riêng có của Việt Nam.
Vì vậy, trong xây dựng và vận hành nền kinh tế, cần tôn trọng cái phổ quát để tạo ra cái riêng có, đặc thù của Việt Nam” - TS Nguyễn Đức Kiên - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội nhấn mạnh trong cuộc trao đổi với phóng viên báo Kinh tế & Đô thị về vấn đề đang được quan tâm quanh nhận thức mới về nền kinh tế hiện nay. 

Thể chế kinh tế thị trường ngày càng rõ nét

 Nền KTTT định hướng XHCN đang là một vấn đề được quan tâm khi Dự thảo Văn kiện Đại hội XII của Đảng đưa ra “định nghĩa” mới, đồng thời trong cuộc họp Chính phủ vừa qua, Thủ tướng Chính phủ cũng cho rằng không thể nói chung chung nữa, phải cụ thể. Vậy dưới góc nhìn của một nhà nghiên cứu, quan điểm của ông trước vấn đề này như  thế nào?

- Khái niệm KTTT mới được chúng ta sử dụng từ đầu thế kỷ XXI. Trước đây hay dùng khái niệm là nền kinh tế hàng hóa. Trong Dự thảo báo cáo chính trị Đại hội XII của Đảng, đã làm rõ hơn nội hàm của KTTT định hướng XHCN là gì.  Trước đây đã có những định nghĩa, nhưng nội hàm còn để cho mỗi người lập luận theo những cách khác nhau. Nền KTTT định hướng XHCN có hai đặc trưng là tôn trọng quy luật của nền KTTT và được Nhà nước vận hành. Nhưng có thời điểm, chúng ta lại thấy một xu thế nữa là tôn trọng bàn tay vô hình của quy luật: Nhà nước can thiệp ít như có thể và thị trường nhiều như có thể. Nhưng qua cuộc khủng khoảng tháng 9/2008, chúng ta nhìn thấy nước Mỹ là nước thực hiện nền KTTT theo đúng nguyên tắc này, buộc phải quay trở lại sử dụng sự can thiệp của Nhà nước để cứu vãn nền kinh tế. Như vậy, sau một thời gian nghiên cứu và qua bài học kinh nghiệm về xử lý khủng hoảng nợ công ở châu Âu, đến thời điểm này chúng ta đưa ra một khái niệm đúc kết từ thực tế của nước ta và cả với kinh nghiệm quốc tế. Đó là, nền KTTT định hướng XHCN trước hết là nền KTTT hoàn chỉnh, vận hành theo các quy luật của nền KTTT nhưng định hướng XHCN phải thể hiện ở chỗ có sự quản lý của Nhà nước, mà Nhà nước ở đây theo tinh thần Hiến pháp 2013 là do Đảng lãnh đạo.

Như vậy, KTTT không có nghĩa là tự do phát triển, thưa ông?

- Đúng thế, KTTT là tôn trọng quyền làm giàu của công dân, nhưng quyền đấy không được ảnh hưởng đến người khác. Nó phải có nguyên tắc. Ví dụ cái mỏ khoáng sản ấy tôi xin được giấy phép, nên lợi nhuận tôi hưởng cả. Không phải anh phải nộp Thuế Bảo vệ môi trường, Thuế Tái tạo tài nguyên, trả lại cảnh quan cho người dân... Chúng ta đã làm rõ hơn điều ấy.

Nói theo ngôn ngữ nghiên cứu, chúng ta đã tiến tới một bước là khâu phân phối do Nhà nước chỉ đạo, mà Nhà nước chỉ đạo cũng theo nguyên tắc là tôn trọng quy luật của thị trường, công khai, minh bạch, dựa trên đóng góp về sức lao động, vốn và chất xám của những người đầu tư làm ra sản phẩm đó. Đồng thời, chúng ta đã tiến thêm một bước nữa là đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa, một thành viên đầy đủ của WTO và từ 1/1/2016 là một thành viên của cộng đồng kinh tế ASEAN. Tôi nghĩ, ở đây, vai trò của Nhà nước trong quá trình phát triển xây dựng nền KTTT định hướng XHCN nổi rõ hơn bao giờ hết. Tức là Nhà nước thay mặt Nhân dân đi đàm phán và sau đó về tổ chức thực hiện, để tạo ra nhiều giá trị gia tăng nhất cho các sản phẩm hàng hóa sản xuất tại Việt Nam của DN Việt Nam; nhưng chúng ta đồng thời cũng phải mở cửa thị trường để hàng hóa các nước vào, thực hiện nguyên tắc hai bên cùng có lợi.

Từ nhận thức đến hành động cũng cần có những điều kiện đi kèm, vậy theo ông, chúng ta cần cụ thế hóa nhận thức mới này như thế nào?

- Sau khi hiến định quan điểm về KTTT tại Hiến pháp 2013, năm 2014 đã có nhiều luật về kinh tế được sửa đổi như Luật DN, Đầu tư, Đầu tư công, Phá sản... Như vậy là chúng ta đang pháp điển hóa những vấn đề của nền KTTT bằng các luật cụ thể. Như với Luật DN, tính thông thoáng cũng tương đương với một số nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Trong đó, điều mới là đã tôn trọng quy luật của nền KTTT, coi điều lệ của DN là tối thượng; tôn trọng quyền tài sản và quyền tài sản DN của các nhà đầu tư. Hoặc trong Luật Đầu tư, trước đây phải xin phép làm những gì mà pháp luật không cấm, nhưng bây giờ chúng ta đổi lại quyền mưu cầu là quyền của công dân thì Nhà nước với tư cách là nhà quản lý xã hội, thấy lĩnh vực nào, ngành nghề nào phải kinh doanh có điều kiện, lĩnh vực, ngành nghề nào có hại cho xã hội thì phải cấm và phải công bố công khai. Như vậy là chuyển từ người dân được làm những gì pháp luật không cấm, thành pháp luật và xã hội muốn cấm gì thì phải công khai minh bạch, còn lại người dân được quyền làm. Như vậy, thể chế KTTT ngày càng rõ nét. Có thể nói rằng, trong 2 năm qua, với các chương trình xây dựng pháp luật về kinh tế, về cơ bản, chúng ta đáp ứng được 80% tính tương thích với pháp luật của các nước trên thế giới. Nhưng vấn đề còn lại trong thể chế - khâu tổ chức thực hiện của các cơ quan Nhà nước, đấy mới là vấn đề.

Vấn đề là biết điểm dừng

Vậy nhìn vào thực tế, ông nhìn nhận thế nào về nền kinh tế trong những năm qua, sự phát triển “quá nóng” có phải là hạn chế của nền KTTT hiện nay?

- Nền kinh tế của chúng ta phát triển từ những năm 1992 trở lại đây đúng là nền kinh tế được cởi trói những rào cản về mặt cơ chế chính sách. Cho nên, nó được bung ra trong mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề. Việc chúng ta phát triển theo chiều rộng tại thời điểm đấy là hoàn toàn phù hợp với quy luật của nền kinh tế. Điều cần nói ở đây là, chúng ta không biết điểm dừng của nền kinh tế đang được bung ra. Đúng ra, đến giới hạn chúng ta phải dừng lại, phát triển theo chiều sâu. Nhưng chúng ta vẫn tiếp tục phát triển theo chiều rộng, thành ra nền kinh tế không có mũi nhọn. Nếu năm 1986, nền kinh tế Việt Nam có 2 điểm nóng là sản xuất tiêu dùng và nông nghiệp.
Sản xuất linh kiện xe máy tại Công ty TNHH TS Việt Nam. Ảnh: Huy Hùng
Sản xuất linh kiện xe máy tại Công ty TNHH TS Việt Nam. Ảnh: Huy Hùng
Sau nhiều thành công của 30 năm đổi mới, đến nay, chúng ta vẫn lúng túng chưa chọn được khâu đột phá và thời gian triển khai thực hiện kéo dài. Nói một cách hình ảnh, chúng ta bây giờ đang là chính sách quả mít, không có mũi nhọn, không có đầu tàu, không có đột phá. Điểm yếu của chúng ta còn là đầu tư dàn trải, cái gì Nhà nước cũng có, cái gì Nhà nước cũng làm, không chọn được chính xác lúc nào DN Nhà nước là chính, lúc nào thì DN Nhà nước phải thoái vốn. Cái hạn chế này kìm hãm sự phát triển của kinh tế đất nước. Ngay như năm 2015, không nên lấy mục tiêu là 6,2 hay 6,3% là một niềm tự hào, cái quan trọng ở đây là hết 2015 chúng ta có tái cơ cấu xong nền kinh tế không? Chúng ta có đạt được mô hình tăng trưởng mới không để sang năm 2016 mô hình mới đó phát huy và nó đảm bảo từ năm 2016 – 2020 chúng ta sẽ tăng trên 7% không?

Nếu thẳng thắn nhìn nhận, lĩnh vực nào theo ông đang thể hiện rõ nhất sự phát triển của quy luật KTTT?

- Trong nền kinh tế của chúng ta đang đan xen, có công đoạn là KTTT, có công đoạn lại là XHCN, nó không nhuần nhuyễn, thống nhất, đây cũng chính là hạn chế khiến DN, nhà đầu tư phản ứng. Một trong những yêu cầu đầu tiên trong hội nhập, khi ký cam kết với WTO là chính sách của chúng ta phải minh bạch và dự báo được. Nhưng chính sách của chúng ta không dự báo được. 

Theo tôi, một lĩnh vực vừa thể hiện nhu cầu KTTT vừa thể hiện sự yếu kém trong quản lý Nhà nước chính là giá điện. Đầu vào là KTTT khi phải mua của nhiều nguồn, nhưng đầu ra lại là CNXH khi khống chế giá điện bán ra. Cái yếu kém của chúng ta trong công tác quản lý Nhà nước là không phân tích được rạch ròi giá bán điện.

Nhưng thưa ông, có quan điểm lại lo ngại rằng, sự “triệt để” KTTT sẽ làm chệnh hướng XHCN?

- Không phải thế, chúng ta phải nhìn thế này, nền KTTT định hướng XHCN nói một cách nôm là nền kinh tế vận hành tuân thủ theo quy luật phổ quát là KTTT, nhưng nó lại tôn trọng luật cá biệt là định hướng XHCN. Tức là sản xuất tạo ra lợi nhuận theo KTTT, nhưng phân phối phải đảm bảo theo công bằng xã hội (lao động, vốn, chất xám...). Trong cuộc sống, bài học rất rõ ràng đó là thị trường chứng khoán. Lúc đầu là 100% DN vốn Nhà nước, nhưng khi vận hành xong, chúng ta tiến hành thoái vốn của Nhà nước và đến thời điểm hiện nay, có thể tự hào nói rằng, các công ty hoạt động trên thị trường chứng khoán, 100% là công ty cổ phẩn của các thành phần kinh tế khác, vốn Nhà nước rất ít. Như vậy ở đây, Nhà nước đã chủ động mở ra một hướng mới là thị trường vốn và sau đó Nhà nước đưa ra các luật chơi phù hợp với thông lệ quốc tế, phù hợp với điều kiện Việt Nam và khi thị trường vận hành, Nhà nước rút dần ra và nhường cho các thành phần kinh tế khác. Như vậy cũng có nghĩa là chúng ta đang xã hội hóa các đầu tư dựa trên thị trường vốn. Nên tôi nghĩ không có gì đáng ngại. Như hiện nay vốn của các thành phần kinh tế khác đóng góp vào GDP cũng cao hơn vốn Nhà nước.

Theo ông, ngoài việc tiếp tục hoàn thiện thể chế, còn điều gì cần rút kinh nghiệm để biến nhận thức mới thành kết quả thực tế?

- Nhận thức mới này khái quát được tình hình kinh tế hiện nay, nhưng chúng ta vẫn chưa lường trước được khi hội nhập vào nền kinh tế ASEAN, khi nền thuế suất bằng 0 thì lúc ấy sẽ như thế nào... Khái niệm ấy đúng ở thời điểm này và trong vòng 5 năm tới, nhưng có thể dài hơn vẫn cần sự thay đổi. Tôi nghĩ KTTT là một vấn đề còn dài và luôn phải nghiên cứu. Nếu không tìm tòi để áp dụng được vào mô hình của mình, đến một thời điểm nào đó sẽ tụt hậu. Nên chúng ta phải có những chính sách để điều tiết hài hòa giữa lợi ích kinh tế và an sinh xã hội. KTTT không có nghĩa là không chăm lo cho người nghèo.

Xin cảm ơn ông!
TIN CÙNG CHUYÊN MỤC
TAG: