DÒNG SỰ KIỆN. * CHÀO MỪNG ĐẠI HỘI LẦN THỨ XIII CỦA ĐẢNG * ĐẠI DỊCH COVID-19 * CUỘC THI VIẾT “BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN TP HÀ NỘI”

Người kiến trúc sư Hà Nội và công trình tâm huyết ở Trường Sa

30-01-2016 10:05
Kinhtedothi - Sinh ra trong một gia đình Hà Nội gốc, tình nguyện chia tay giảng đường đại học để nhập ngũ vào năm 1979, kiến trúc sư Đoàn Bá Cử (nay 64 tuổi) đã dồn hết tâm huyết 30 năm kinh nghiệm của mình cho một công trình kiến trúc truyền thống nơi đảo xa.
Kinhtedothi - Sinh ra trong một gia đình Hà Nội gốc, tình nguyện chia tay giảng đường đại học để nhập ngũ vào năm 1979, kiến trúc sư Đoàn Bá Cử (nay 64 tuổi) đã dồn hết tâm huyết 30 năm kinh nghiệm của mình cho một công trình kiến trúc truyền thống nơi đảo xa.
Truyền thuyết gắn với thực tế và tâm nguyện con người

Là chuyên gia về kiến trúc truyền thống Việt Nam, theo ông, điều gì làm nên sự khác biệt giữa đặc trưng văn hóa của dân tộc ta so với các nước khác?

- Truyền thống của nước ta là những yếu tố được chấp nhận và tồn tại lâu dài ở Việt Nam, kể cả yếu tố vốn được du nhập vào thông qua sự giao thoa về văn hóa và con người. Nhưng các yếu tố riêng chỉ có ở Việt Nam là quan trọng nhất. Theo truyền thuyết từ ngàn xưa, tổ tiên của người Việt là bà Âu Cơ và ông Lạc Long Quân có 100 người con (50 người con theo mẹ lên núi, 50 người con theo cha ra biển). Các di chỉ khảo cổ đã chứng minh cư dân cổ ở Việt Nam gồm các tộc người, một phần sinh sống ở vùng núi và trung du, một phần sinh sống ở ven biển và hải đảo. Họ luôn đoàn kết với nhau theo nghĩa “đồng bào” như trong truyền thuyết là cùng chung cha mẹ, được sinh ra từ chung một bào thai (bọc trăm trứng). Dù sau này tổ tiên của chúng ta tiếp tục mở mang bờ cõi từ núi xuống đồng bằng, từ biển ra đến hải đảo thì tất cả 54 dân tộc ngày nay ở Việt Nam đều là con cháu của Âu Cơ và Lạc Long Quân. Đó là cội rễ văn hóa đặc trưng của người Việt Nam. Ý thức hệ của truyền thống Việt Nam rất coi trọng yếu tố đặc trưng truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong từng gia đình, dòng họ, vùng đất (quê cha đất tổ).
Kiến trúc sư Đoàn Bá Cử (bên trái) và cộng sự ở Công ty CP Di tích T.Ư. 	Ảnh: Đoàn Bắc
Kiến trúc sư Đoàn Bá Cử (bên trái) và cộng sự ở Công ty CP Di tích T.Ư. Ảnh: Đoàn Bắc
30 năm qua, ông dồn hết tâm sức vào kiến trúc truyền thống của Việt Nam. Vậy, loại hình công trình nào đã gây ấn tượng sâu sắc nhất đối với ông?

- Kiến trúc truyền thống Việt Nam gồm các loại công trình tiêu biểu như nhà ở của người dân, đình làng, cung điện và lăng mộ, chùa,… và đặc biệt là các ngôi đền thờ gắn với đời sống tâm linh chung của cả cộng đồng. Nhu cầu về tâm linh và đặc biệt là thờ cúng, tưởng nhớ tổ tiên thì ở Việt Nam đời nào và ở bất kỳ đâu cũng có. Nền văn minh Việt cổ gắn với việc trồng lúa nước, đánh bắt thủy hải sản nên phụ thuộc nhiều vào các yếu tố, sự thay đổi của thiên nhiên. Khi chưa thể lý giải hoặc chưa chế ngự được các yếu tố này, con người chọn giải pháp thờ cúng để mong điều tốt đẹp sẽ đến với mình. Vì thế, dân gian Việt Nam có câu cửa miệng: “Có thờ có thiêng, có kiêng có lành”. Ngoài ra, trong mỗi gia đình người Việt hầu như cũng đều có bàn thờ tổ tiên (ông bà, cha mẹ). Trong tâm thức của người Việt Nam, đền thờ là nơi linh thiêng hội tụ linh khí của thế giới (trời, đất, biển cả, sông núi,…) và linh hồn của những người đã khuất (tổ tiên, các vị thần, người có công với xã hội) để giúp cho những người đang sống.

Hẳn là loại công trình này cũng có những tác động nhất định đến cuộc sống hiện đại ngày nay, thưa ông?

- Việt Nam đã phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh nên có nhiều công trình kiến trúc truyền thống đã bị tàn phá, thậm chí tàn phá hoàn toàn. Vì vậy, ngày nay chúng ta không chỉ phải bảo tồn và phục chế các công trình cổ mà còn xây dựng các công trình mới trên nền cũ hoặc kế thừa các yếu tố truyền thống, lịch sử để duy trì ý nghĩa linh thiêng của loại công trình này. Vấn đề tâm linh thì không thể định lượng được, các ngôi đền ở Việt Nam hầu như đều xuất phát từ nguyện vọng chung của cộng đồng nên mang ý nghĩa tập hợp và đoàn kết cộng đồng rất lớn. Văn hóa truyền thống của đất nước, dân tộc không chỉ cần phải được bảo tồn mà còn phải tiếp tục phát huy. Đối với người Việt Nam, ngôi đền linh thiêng không phải bởi kích thước to lớn hoặc chịu ảnh hưởng bởi tôn giáo như các nước khác trong khu vực. Yếu tố linh thiêng nhất chính của ngôi đền là nơi xây dựng và các truyền thuyết, sự tích về nhân vật hoặc linh thần được tôn thờ tại đây. Việc phục chế hoặc xây mới các đền thờ cũng phải tuyệt đối tuân thủ những nguyên tắc truyền thống này.

Ý tưởng xây dựng ngôi đền thờ Quốc tổ ở Trường Sa
Vị trí của bãi cạn Đá Tây nằm tại điểm đảo Đá Tây A, thuộc địa phận thị trấn Trường Sa, huyện Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa (Việt Nam). Nơi đây cách cảng Cam Ranh 250 hải lý, cách cảng Vũng Tàu khoảng 320 hải lý và cách hải đăng Đá Tây khoảng 4 hải lý, cách đảo Trường Sa Đông (điểm gần nhất) khoảng 7 hải lý, cách đảo Trường Sa (trung tâm hành chính của thị trấn Trường Sa) khoảng 24 hải lý.

Ông đang ấp ủ ý tưởng thiết kế một ngôi đền thờ ở quần đảo Trường Sa. Mong ông chia sẻ cho độc giả những thông tin về ý tưởng đặc biệt này.

- Trong sự nghiệp của mình cho đến khi về hưu, tôi đã có may mắn ghi dấu ấn trong nhiều công trình kiến trúc truyền thống ở các vùng hải đảo Việt Nam (từ Quan Lạn, Cô Tô cho tới Lý Sơn, Côn Đảo và Phú Quốc). Nhưng tôi vẫn chưa một lần được đặt chân lên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Điều đó càng thôi thúc tôi tìm hiểu về nơi này và muốn làm được một điều ý nghĩa cho cộng đồng tại đây. Các thế hệ người Việt Nam tới đây sẽ mở mày mở mặt được không, sẽ phát triển được không nếu không đoàn kết lại như để giữ vững chủ quyền biển đảo của mình. Hiện nay, tại huyện đảo Trường Sa đã có nhiều ngôi chùa và tượng Đức thánh Trần Hưng Đạo, nhà tưởng niệm Hồ Chí Minh và đài liệt sĩ,… nhưng chưa có đền thờ các bậc tổ tiên của dân tộc. Vì thế, tôi và các cộng sự đã thiết kế ý tưởng về một ngôi đền thờ Quốc tổ Việt Nam đặt tại quần đảo Trường Sa. Đó sẽ là một ngôi đền thờ Âu Cơ, Lạc Long Quân cùng các liệt vị vua Hùng (thời Văn Lang). Bên cạnh đó là những người con đất Việt đã hy sinh vì biển đảo của Tổ quốc từ hàng đời nay (gồm các vị anh hùng dân tộc, liệt sĩ, tử sĩ và của những ngư dân). Ngôi đền sẽ theo đúng thức kiến trúc truyền thống Việt Nam với bố cục đối xứng hình chữ Công trang trọng nhất. Công trình này không phải là bản sao của các ngôi đền thờ ở núi Nghĩa Lĩnh (Phú Thọ) hay các nơi khác trong đất liền. Đây sẽ là một công trình mang đặc trưng của Trường Sa ở giữa Biển Đông và vừa là nơi thờ cúng tâm linh vừa là điểm du lịch, giao lưu và quảng bá truyền thống của Việt Nam.

Đâu sẽ là địa điểm thích hợp cho việc xây dựng công trình ấy?

- Quần đảo Trường Sa vốn dĩ đã là một nơi thiêng liêng đối với mọi người dân Việt Nam, tuy nhiên, không phải bất kỳ chỗ nào trên quần đảo đều thích hợp để xây dựng công trình này. Trước hết, ngôi đền phải được đặt ở nơi an toàn, bình yên để càng nhiều người dân Việt Nam có thể đến được đó càng tốt. Thậm chí, chúng ta có thể đón tiếp bạn bè quốc tế vào tham viếng đền Quốc tổ Việt Nam. Qua khảo sát các tư liệu, bản đồ và theo tư vấn của những người có nhiều kinh nghiệm về Trường Sa, chúng tôi đã lựa chọn khu vực xây dựng nằm trên cồn cát nổi (có diện tích khoảng 75.000m2) thuộc Khu hậu cần nghề cá Đá Tây (thuộc Tổng Công ty Hàng hải Biển Đông, Bộ NN&PTNT). Đây là địa điểm hội đủ các yếu tố cần thiết như: Nằm trong bãi cạn của rạn san hô nửa nổi nửa chìm Đá Tây bao quanh một vùng biển nông với khung cảnh tự nhiên rất đẹp và tập trung nhiều hải sản quý hiếm; theo quy hoạch phát triển cảng biển Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030: tại đây gồm có khu kinh tế dịch vụ hậu cần nghề cá và âu tàu quy mô lớn là nơi neo đậu cho hàng trăm tàu thuyền khi gặp bão, sóng to, gió lớn; gần tuyến đường hàng hải quốc tế vào loại tấp nập nhất thế giới đi ngang qua quần đảo Trường Sa; được bảo vệ an toàn bởi các điểm đóng của Vùng 4 Hải quân ở xung quanh (tại các đảo Trường Sa Đông, Trường Sa và các bãi Đá Tây, Đá Đông).

Hành trình hiện thực hóa ý tưởng này của ông có còn khó khăn nào?

- Điều đầu tiên và quan trọng nhất là cần sự ủng hộ và đồng lòng của mọi người dân Việt Nam, vì đền thờ Quốc tổ là dành cho cả dân tộc. Tất cả hơn 90 triệu người Việt Nam, mỗi người chỉ cần đóng góp một phần nhỏ bé như chúng tôi thì nhất định ý tưởng này sẽ thành hiện thực. Điều thứ hai là cần phải được các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và các tổ chức có uy tín đảm nhiệm vai trò bảo trợ, vận động đóng góp, tài trợ theo hình thức xã hội hóa công khai và dân chủ. Bởi, để xây dựng một công trình có tính thẩm mỹ cao và ở xa đất liền như ngôi đền này sẽ đòi hòi nguồn vốn đầu tư không nhỏ. Tuy nhiên, với truyền thống của dân tộc Việt Nam, chúng tôi luôn có niềm tin là từ điều cần thiết đầu tiên chúng ta sẽ thực hiện được tất cả các phần việc còn lại để sớm có được một ngôi đền thờ Quốc tổ Việt Nam tại quần đảo Trường Sa.

Xin cảm ơn ông!
TIN CÙNG CHUYÊN MỤC
TAG: