DÒNG SỰ KIỆN. * KỲ HỌP THỨ 8, QUỐC HỘI KHÓA XIV * TOÀN CẢNH VỤ NƯỚC SẠCH Ở HÀ NỘI CÓ MÙI LẠ * KỶ NIỆM 65 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG THỦ ĐÔ * HÀ NỘI - 20 NĂM “THÀNH PHỐ VÌ HÒA BÌNH” * AN TOÀN PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY

Quy định số lượng ủy viên, cơ cấu Ban thường vụ, Phó bí thư cấp tỉnh nhiệm kỳ mới

Nam Thành
24-06-2019 19:49
Kinhtedothi - Theo Chỉ thị số 35-CT/TW, Ban thường vụ Thành uỷ Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Tỉnh uỷ Thanh Hoá, Nghệ An có không quá 17 người.
Tin liên quan
  • Chỉ thị số 35-CT/TW về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Chỉ thị số 35-CT/TW về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng
 Các đại biểu dự Đại hội XII
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30/5/2019 của Bộ Chính trị khóa XII về Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. So với Chỉ thị số 36-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XI, Chỉ thị số 35-CT/TW có nhiều nội dung được kế thừa, chỉnh sửa, bổ sung.
Kế thừa 4 nội dung còn phù hợp
Thứ nhất, về quy định đổi mới cấp ủy viên, chỉ thị số 35-CT/TW tiếp tục thực hiện chủ trương cấp ủy các cấp đổi mới không dưới 1/3 tổng số cấp ủy viên mỗi nhiệm kỳ và thực hiện cơ cấu ba độ tuổi trong cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy và phấn đấu ba độ tuổi trong thường trực cấp ủy.
Thứ hai, tiếp tục thực hiện mô hình Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch HĐND, Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch UBND cấp huyện, cấp xã ở những nơi có đủ điều kiện.
Thứ ba, về thời điểm tính độ tuổi tham gia cấp ủy và chính quyền: Cấp cơ sở, tháng 4/2020; cấp trên trực tiếp cơ sở, tháng 6/2020; cấp trực thuộc Trung ương, tháng 9/2020. Thời điểm tính tuổi tham gia chức danh lãnh đạo HĐND, UBND, đoàn đại biểu Quốc hội, tháng 5/2021.
Thứ tư, về độ tuổi lần đầu tham gia và tái cử cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, những đồng chí lần đầu tham gia cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội nói chung phải đủ tuổi công tác từ 2 nhiệm kỳ trở lên, ít nhất cũng trọn 1 nhiệm kỳ.
Kế thừa có điều chỉnh 3 nội dung
Thứ nhất, về thực hiện chủ trương Bí thư cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện và các chức danh lãnh đạo cấp trưởng một số ngành không là người địa phương: Để thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa XII) theo lộ trình phù hợp, Bộ Chính trị lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chủ trương bố trí Bí thư cấp ủy cấp tỉnh không là người địa phương theo lộ trình, phù hợp với đặc điểm, tình hình cụ thể và đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng địa phương; cấp ủy cấp tỉnh chủ động xây dựng kế hoạch để đến năm 2025 cơ bản hoàn thành ở cấp huyện; khuyến khích thực hiện đối với các chức danh khác.
Thứ hai, về thực hiện chủ trương thí điểm đại hội trực tiếp bầu Bí thư cấp ủy: Thực hiện chủ trương thí điểm bầu bí thư cấp ủy tại đại hội ở những nơi cấp ủy đoàn kết, thống nhất cao; nhân sự dự kiến giới thiệu là người tiêu biểu, hội tụ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, có khả năng đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; đồng thời, phải được sự đồng ý của cấp ủy cấp trên trực tiếp.
Thứ ba, về cơ cấu, số lượng đại biểu dự đại hội: Việc xác định cơ cấu, số lượng đại biểu đại hội đảng bộ các cấp thực hiện theo hướng giữ nguyên số lượng đại biểu ở khối địa phương như một số nhiệm kỳ gần đây; đồng thời, đổi mới cách phân bổ để bảo đảm thành phần, cơ cấu, giới tính, dân tộc hợp lý; tăng số lượng đại biểu ở các ngành, lĩnh vực quan trọng để có từ 1 đến 2 đại biểu (không tính đại biểu đương nhiên) nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng thảo luận, phản biện, đóng góp ý kiến khi quyết định những chủ trương, chính sách lớn của Trung ương và địa phương.
Kế thừa có bổ sung 4 nội dung
Về số lượng ủy viên Ban Chấp hành, ủy viên Ban Thường vụ: Quy định số lượng cấp ủy viên và ủy viên Ban Thường vụ các cấp; đồng thời, thực hiện giảm khoảng 5% số lượng cấp ủy viên cấp tỉnh, cấp huyện so với số lượng tối đa đã được Trung ương xác định ở nhiệm kỳ 2015 - 2020 theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6, 7 (khóa XII).
Về quy trình nhân sự, thực hiện theo Quy định số 105-QĐ/TW ngày 19/12/2017 của Bộ Chính trị, hướng dẫn của cấp ủy có thẩm quyền và được cụ thể hóa để xây dựng quy trình mới đối với 2 đối tượng: Nhân sự lần đầu tham gia cấp ủy và nhân sự tái cử cấp ủy.
Về cơ cấu cấp ủy theo địa bàn, lĩnh vực, thực hiện chủ trương không nhất thiết địa phương, ban, ngành nào cũng phải có người tham gia cấp ủy; đồng thời, thống nhất quy định một số chức danh cụ thể có cơ cấu Ban Thường vụ, số cơ cấu còn lại do cấp ủy quyết định theo yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị và khả năng đáp ứng của cán bộ.
Về tỷ lệ cán bộ nữ, trẻ, người dân tộc thiểu số trong cấp ủy, phấn đấu đạt tỷ lệ cấp ủy viên nữ từ 15% trở lên và có cán bộ nữ trong ban thường vụ; tỷ lệ cán bộ trẻ (dưới 40 tuổi đối với cấp tỉnh, cấp huyện) từ 10% trở lên; tỷ lệ cấp ủy viên là người dân tộc thiểu số phù hợp với đặc điểm, cơ cấu dân tộc và điều kiện cụ thể của từng địa phương, cơ quan, đơn vị.
Số lượng và cơ cấu Ban thường vụ, Phó Bí thư cấp tỉnh
Tại Phụ lục 3, Chỉ thị 35-CT/TW quy định rõ cơ cấu, số lượng cấp uỷ viên, uỷ viên thường vụ và phó bí thư cấp uỷ các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025.
Theo đó Thành uỷ Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Tỉnh uỷ Thanh Hoá, Nghệ An không quá 17 người. Các tỉnh uỷ, thành uỷ còn lại và các đảng uỷ khối trực thuộc Trung ương từ 13 - 15 người.
Định hướng cơ cấu Ban thường vụ gồm có: Bí thư, phó bí thư; chủ tịch và 1 phó chủ tịch HĐND; chủ tịch và 1 phó chủ tịch UBND; chủ nhiệm UB kiểm tra cấp uỷ và trưởng các ban: Tổ chức, Tuyên giáo, Dân vận, Nội chính; Chủ tịch MTTQ (ở những nơi chưa thực hiện trưởng ban Dân vận đồng thời là chủ tịch MTTQ); chỉ huy trưởng quân sự, giám đốc công an; người đứng đầu cấp uỷ một số địa bàn, lĩnh vực quan trọng cần tập trung sự lãnh đạo của ban thường vụ cấp uỷ.
Bên cạnh đó, Chỉ thị quy định rõ, Hà Nội và TP Hồ Chí Minh không quá 3 phó bí thư. Các tỉnh thành còn lại và đảng uỷ khối trực thuộc TƯ không quá 2 phó bí thư.
Số lượng cấp uỷ viên, uỷ viên ban thường vụ cấp uỷ, phó bí thư được tăng thêm để luân chuyển, đào tạo theo quy hoạch của TƯ không tính vào số lượng cấp uỷ nêu theo quy định của Chỉ thị này. Đồng thời, việc giới thiệu và bầu cử đối với số cán bộ được tăng thêm hiện đang công tác ở địa phương vẫn thực hiện theo quy định hiện hành.
Đối với huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Chỉ thị quy định số lượng uỷ viên ban thường vụ từ 9 - 11 người. Đối với những nơi có số lượng đảng viên lớn hoặc tính chất nhiệm vụ, địa bàn phức tạp số lượng uỷ viên ban thường vụ không quá 13 người. Số lượng phó bí thư 2 người.
Đối với các đảng bộ trực thuộc đảng uỷ khối ở TƯ, số lượng uỷ viên ban thường vụ từ 9 - 11 người, phó bí thư từ 1 - 2 người.
Đối với đảng bộ khối cơ quan tỉnh, thành phố và đảng bộ cấp trên trực tiếp cơ sở khác (các tập đoàn, tổng công ty, các ngân hàng thương mại nhà nước hoặc nhà nước có cổ phần chi phối), số lượng uỷ viên ban thường vụ từ 7 - 9; phó bí thư từ 1 - 2 người.
Đảng bộ Quân đội và Công an thực hiện theo quy định riêng của Bộ Chính trị.