DÒNG SỰ KIỆN. * GÓP Ý DỰ THẢO VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XVII ĐẢNG BỘ TP HÀ NỘI * ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ CÁC CẤP VÀ ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG * ĐẠI DỊCH COVID-19

[Thông điệp từ lịch sử] Trần Hưng Đạo - một đời tận trung

Vĩnh Khánh
15-08-2020 15:29
Kinhtedo0thi - Trần Hưng Đạo là vị tướng, nhà tư tưởng lỗi lạc trong lịch sử Việt Nam. Tư tưởng chính trị, quân sự phong phú, toàn diện và sâu sắc của ông phản ánh nhu cầu của dân tộc Đại Việt lúc bấy giờ, không chỉ bảo vệ đất nước mà còn là xây dựng quốc gia.
Ông khát khao và cống hiến để có triều đình bền vững, quốc gia hùng cường, để giữ được độc lập cho Nước, chăm lo được cho Dân.
Tài năng xuất chúng, võ công lẫy lừng
Trần Quốc Tuấn (1230 (?)- 1300) - Hưng Đạo Đại Vương hay Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương là con của An Sinh Vương Trần Liễu, cháu nội của Trần Thái Tổ (Trần Thừa), gọi Trần Thái Tông là chú. Theo “Trần triều thế phả hành trạng” thì mẹ ông là Thiện Đạo quốc mẫu, huý là Nguyệt, một người trong tôn thất họ Trần.
Ông là người “có dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người”, được rèn dạy từ khi còn rất nhỏ nên văn võ hơn người, lúc chưa đầy 30 tuổi đã là võ tướng hàng đầu của triều đình.
Trần Hưng Đạo là vị tướng cầm quân và giành phần thắng trong cả ba cuộc chiến tranh chống quân Nguyên Mông trải dài hơn 30 năm từ 1258 đến 1288.
Tượng đài Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.
Trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất, nắm được âm mưu của quân Nguyên Mông, để chủ động đối phó, từ tháng Chín năm Đinh Tỵ (1257), vua Trần Thái Tông đã “hạ mệnh lệnh cho
Quốc Tuấn đem quân trấn ngự biên thùy phía Bắc” (Cương mục - CM).
Tháng 12, năm Đinh Tỵ (1257), tướng Mông Cổ là Ngột Lương Hợp Thai dẫn quân xâm phạm Bình Lệ Nguyên. Đánh chặn từ biên giới, nhưng thế giặc mạnh nên quân nhà Trần phải lui về sông Phú Lương, rồi về Đông Bộ Đầu, và rút khỏi thành Thăng Long lui về giữ sông Thiên Mạc. Địch vào Thăng Long nhưng thiếu lương thực phải đi cướp phá ở ngoại thành, bị quân dân đánh trả nên ngày càng rệu rã, mất thế chủ động.
Vua Trần Thái Tông và Thái tử Hoảng (sau này là vua Thánh Tông) cầm quân tiến ra đánh tan giặc ở Đông Bộ Đầu, kết thúc cuộc kháng chiến. Sử cũ không ghi chép cụ thể về vai trò của Trần Hưng Đạo trong các trận đánh này nhưng chắc chắn có công lớn của ông vì ngay từ đầu ông đã được vua “xuống chiếu, lệnh cho tả hữu tướng quân đem quân thủy bộ ra ngăn giữ biên giới theo sự tiết chế của Quốc Tuấn" (Đại Việt Sử Ký toàn thư - TT).
Võ công lừng lẫy nhất của Trần Hưng Đạo là trong cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285).
Năm Kỷ Mão (1279), đế quốc Mông Cổ tiêu diệt nhà Nam Tống, lập ra nhà Nguyên. Đoan chắc quân Nguyên Mông sẽ tiến đánh Đại Việt, vua Nhân Tông giao Trần Hưng Đạo chỉnh đốn quân đội, mở trường dạy võ, thu nạp nhân tài hào kiệt.
Năm Nhâm Ngọ (1282), Toa Đô mang quân vượt biển đánh Chiêm Thành để tạo gọng kìm phía Nam. Tháng Mười năm Quý Mùi (1283), Trần Hưng Đạo được phong làm Quốc công tiết chế thống lĩnh chư quân. Tháng 7 năm Giáp Thân (1284), nhà Nguyên tập trung 50 vạn quân chuẩn bị tiến đánh Đại Việt. Tháng Tám, duyệt quân ở bến Đông Bộ Đầu, Trần Hưng Đạo đọc "Hịch tướng sĩ”, rồi chia quân đóng giữ các nơi hiểm yếu.
Đầu năm Ất Dậu (1285), lấy danh nghĩa mượn đường đánh Chiêm Thành, quân Nguyên ồ ạt tấn công Đại Việt từ 2 phía, Thoát Hoan từ phía Bắc đánh xuống, Toa Đô từ đất Chiêm đánh lên. Trần Hưng Đạo đánh chặn ở biên giới không nổi nên rút quân về Vạn Kiếp.
Thủy quân Nguyên do Ô Mã Nhi chỉ huy tấn công và bao vây quân Trần Hưng Đạo tại Vạn Kiếp. Thủy chiến lớn tại đây, vua Trần đem quân đến trợ chiến. Quân Đại Việt rút về dàn trận bên bờ sông Hồng gần thành Thăng Long. Quân Nguyên tiến theo đường bộ về Thăng Long. Trần Hưng Đạo ra lệnh rút quân và thực hiện kế "thanh dã" (vườn không nhà trống).
Quân Nguyên vào Thăng Long rồi tiếp tục đuổi theo vua Trần xuống phủ Thiên Trường. Tình cảnh nguy khốn, Thượng hoàng Thánh Tông lo ngại, vờ hỏi Hưng Đạo vương xem có nên hàng không. Trần Hưng Đạo trả lời: "Bệ hạ chém đầu tôi rồi hãy hàng".
Ở Nghệ An, Trần Kiện đầu hàng, Trần Quang Khải không chống được Toa Đô. Tháng ba (1285), Trần Hưng Đạo đưa hai vua đến nguồn Tam Trĩ nguyên (sông Ba Chẽ, thuộc tỉnh Quảng Ninh ngày nay). Bị phát hiện, “Nhà vua phải đổi đi đường bộ đến xã Thủy Chú, rồi lại đi thuyền đến sông Nam Triệu, qua cửa biển Đại Bàng vào Thanh Hóa” (CM), thoát thế bị bao vây truy đuổi.
Trần Hưng Đạo bày binh phản công. “Tháng Tư. Mùa Hạ. Chiêu Văn vương Nhật Duật đánh thắng được quân Nguyên ở cửa Hàm Tử”; “Tháng Năm, nhà vua mời Thượng hoàng tự làm tướng đánh quân Nguyên, phá tan quân Toa Đô ở Tây kết, chém được Toa Đô” ; “Hưng Đạo vương đánh cho quân Nguyên phải thua to ở Vạn Kiếp, Thoát Hoan trốn về nước”; “Tháng Sáu. Nhà vua rước Thượng hoàng trở về hoàng cung” (CM).
Để phục thù, vua Nguyên lại chuẩn bị để tiến đánh Đại Việt lần thứ ba. Vua Nhân tông hỏi Hưng Đạo vương: "Thế giặc năm nay thế nào?". Ông trả lời: “Theo như thần thấy, phá được chúng là điều chắc chắn”(TT).
Tháng 6 năm Bính Tuất (1286), vua “hạ lệnh cho Quốc Tuấn đốc suất các vương hầu, chiêu mộ binh lính, sắm sửa binh khí, để phòng khi chiến đấu hoặc phòng thủ” (CM).
Tháng 11 năm Đinh Hợi (1287), Thoát Hoan đem 50 vạn quân tiến đánh Đại Việt.
Trần Nhân Tông hỏi Hưng Đạo vương: "Năm nay đánh giặc thế nào?". Ông quả quyết: "Năm nay đánh giặc nhàn".
Khác hai lần trước, Trần Hưng Đạo không bỏ kinh đô mà tổ chức phòng thủ giữ thành. Quân Nguyên công thành, quân Đại Việt đánh trả. Trần Hưng Đạo vờ xin giảng hòa, nhưng ban đêm lại cho từng toán nhỏ tập kích trại giặc, đốt phá lương thực rồi rút lui làm cho quân Nguyên không thể đối phó đành phải rút. Mặt khác, Trần Hưng Đạo chủ trương tiêu diệt quân lương, chặn đánh đoàn thuyền lương ngay từ Vân Đồn.
Bị thiếu lương và bệnh dịch, Thoát Hoan buộc phải rút lui, ngả thủy quân do Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp chỉ huy, ngả bộ binh do Thoát Hoan chỉ huy. Tháng Tư năm Mậu Tý (1288) Trần Hưng Đạo cho mai phục ở cửa sông Bạch Đằng, trực tiếp tiêu diệt toàn bộ binh thuyền của địch, bắt sống Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp và Tích Lệ Cơ. Thoát Hoan dẫn quân bộ tháo chạy theo đường Lạng Sơn, cũng bị quân Việt đón đánh khiến "quân sĩ mười phần, tổn hại mất 5, 8 phần" (Việt Nam sử lược).
Kể từ đó, quân Nguyên Mông không còn dám tiến đánh Đại Việt.
Nhà tư tưởng chính trị, quân sự
Trước tác của Trần Hưng Đạo có Dụ chư tỳ tướng hịch văn (Hịch tướng sĩ), Binh gia diệu lý yếu lược (Binh thư yếu lược) và Vạn Kiếp tông bí truyền thư (Sách bí truyền của tông phái Vạn Kiếp). Các cuốn sách này phản ánh tư tưởng chính trị, quân sự vô cùng phong phú, toàn diện và sâu sắc của Trần Hưng Đạo.
Tư tưởng chính trị của ông phản ánh nhu cầu của Đại Việt lúc bấy giờ, không chỉ bảo vệ đất nước mà còn là xây dựng quốc gia. Nền tảng tư tưởng của ông là tinh thần yêu nước, thương dân, khát vọng xây dựng đất nước và đem lại yên ấm cho dân. Ông khát khao có một triều đình bền vững, quốc gia hùng cường để giữ được độc lập cho Nước, chăm lo được cho Dân. Ông đánh giá đúng mối quan hệ và vai trò của Dân trong sự tồn tại của Nước.
“Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”. Ông chủ trương chiến tranh Nhân dân, xây dựng khối đoàn kết dân tộc để giữ Nước. Quân đội “cần tinh chứ không cần nhiều”, bên cạnh đội quân thường trực thiện chiến là các đội dân binh. Tư tưởng quân sự nổi bật của ông là “dĩ đoản (binh), chế trường (trận)”, dùng nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh, phát huy mặt mạnh của ta, hạn chế mặt mạnh của địch, tiến thoái linh hoạt để đánh thắng địch.
Một đời tận trung
Trần Hưng Đạo nhớ lời cha trăng trối nhưng ông không bao giờ nghĩ đến phục hận và tranh giành quyền lực kể cả lúc có thời cơ. Cả đời ông tận trung với nước, với vua. Câu trả lời "Bệ hạ chém đầu tôi rồi hãy hàng" là cả tấm lòng trung vô bờ bến của ông. Ông đã từng định giết con trai là Quốc Tảng khi người này có ý nghĩ phục hận.
Ông là người chủ động dẹp bỏ hiềm khích với Trần Quang Khải, bỏ qua lỗi lầm của Trần Khánh Dư vì sự nghiệp lớn của triều đình. Được vua cho quyền phong tước hiệu cho bất kỳ ai nhưng ông không hề sử dụng đặc quyền này.
Sau ba cuộc kháng chiến, năm Kỷ Sửu (1289) ông về ẩn cư ở Vạn Kiếp, xa rời chính sự, không màng đến quyền lực.
Trần Hưng Đạo là vị tướng, nhà tư tưởng có một không hai của Việt Nam trong lịch sử thời phong kiến.

Nền tảng tư tưởng của Trần Quốc Tuấn là tinh thần yêu nước, thương dân, khát vọng xây dựng đất nước và đem lại yên ấm cho dân. Ông khát khao có một triều đình bền vững, quốc gia hùng cường để giữ được độc lập cho nước, chăm lo được cho dân. Ông đánh giá đúng mối quan hệ và vai trò của Dân trong sự tồn tại của Nước.