DÒNG SỰ KIỆN. * KỲ HỌP THỨ 10, QUỐC HỘI KHÓA XIV * ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ CÁC CẤP VÀ ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG * ĐẠI DỊCH COVID-19 * BÁO KINH TẾ & ĐÔ THỊ CHUNG TAY ỦNG HỘ ĐỒNG BÀO VÙNG LŨ MIỀN TRUNG
Tư vấn pháp luật trực tuyến với chủ đề: Quy định pháp luật về quyền dân sự
Kinh Tế Đô Thị
30-09-2020 08:32
Kinhtedothi - Ngày 30/9, báo Kinh tế & Đô thị tổ chức tọa đàm - tư vấn pháp luật trực tuyến với độc giả báo điện tử Kinh tế & Đô thị tại địa chỉ http://kinhtedothi.vn với chủ đề: Quy định pháp luật về quyền dân sự.
Quyền dân sự là khả năng được phép xử sự theo ý chí tự do trong khuôn khổ pháp luật của chủ thể trong quan hệ dân sự, phát sinh trong lĩnh vực dân sự để đáp ứng nhu cầu vật chất, tinh thần của chính chủ thể. Quyền dân sự là quyền hiến định, đã được Hiến pháp ghi nhận và Nhà nước Việt Nam bảo hộ. 

 Phó Tổng biên tập báo Kinh tế & Đô thị Nguyễn Anh Đức phát biểu tại buổi tọa đàm. Ảnh: Văn Trọng

Trong buổi tọa đàm tư vấn - pháp luật trực tuyến hôm nay có Luật sư Nguyễn Hồng Tuyến - Chủ tịch Hội Luật gia TP Hà Nội; Luật sư Nguyễn Quốc Việt; Luật gia Phạm Thu Hương sẽ giải đáp, tư vấn về Quy định pháp luật về quyền dân sự".

Phát biểu tại buổi Tọa đàm, Phó Tổng Biên tập báo Kinh tế & Đô thị Nguyễn Anh Đức nhấn mạnh, hôm nay, báo Kinh tế & Đô thi cùng Hội Luật gia TP Hà Nội tổ chức buổi tọa đàm - tư vấn pháp luật trực tuyến với chủ đề: "Quy định pháp luật về quyền dân sự" nhằm giải đáp cho người dân, bạn đọc về quyền và trách nhiệm dân sự của mỗi công dân.

Mặc dù các quy định pháp luật đã có sẵn, tuy nhiên thời gian qua, việc người dân tiếp cận quy định của pháp luật trên địa bàn TP Hà Nội còn khiêm tốn, khiến nhiều vụ việc đáng tiếc xảy ra, đặc biệt là ở các vùng nông thôn.

Trong khuôn khổ buổi Tọa đàm, báo Kinh tế & Đô thị mong muốn, các luật sư, luật gia có thể truyền đạt tới người dân, bạn đọc các kiến thức, thông tin về quyền dân sự, từ đó góp phần xây dựng một xã hội có ý thức chấp hành pháp luật được tốt hơn.

KHÁCH MỜI THAM DỰ
  • Chủ tịch Hội Luật gia TP Hà Nội

    Luật sư Nguyễn Hồng Tuyến

  • Luật sư

    Ông Nguyễn Quốc Việt

  • Luật gia

    Bà Phạm Thu Hương

Nội dung giao lưu trực tuyến
Bạn đọc Vương Tâm (Quận Đống Đa) hỏi:
Tôi đã tặng cho con gái nhà đất, cháu làm thủ tục sang tên sổ đỏ đứng tên hai vợ chồng. Nay do làm ăn thua lỗ, cháu đã bán nhà đi. Khi tôi biết chuyện, tôi không đồng ý cho con tôi bán vì mục đích của chúng tôi khi tặng cho Nhà đất cho con gái là mong con có chỗ ở ổn định để làm ăn, sinh sống. Nay tôi muốn hủy việc tặng cho nhà có được không…?
Ông Nguyễn Quốc Việt trả lời:

Tại Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Thời điểm, địa điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết; Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ di sản hoặc nơi có phần lớn di sản.

Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

 - Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

 - Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.

Theo quy định của Pháp Luật nêu trên, tại thời điểm bố mất, bạn vẫn chưa thành niên, bạn vẫn được hưởng Di sản bằng hai phần ba suất  của một Người thừa kế theo Pháp luật mà không phụ thuộc vào nội dung của Di chúc.
Bạn đọc Nguyễn Chinh Chiến (Láng Hạ, HN) hỏi:

Tôi bị mất giấy khai sinh gốc. Thủ tục cấp lại như thế nào?


Bà Phạm Thu Hương trả lời:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành Luật Hộ tịch, việc khai sinh đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trước ngày 01/01/2016 nhưng Sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đều bị mất thì được đăng ký lại.
 Căn cứ Điều 26 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, hồ sơ đăng ký lại giấy khai sinh bao gồm: Tờ khai theo mẫu quy định, trong đó có cam đoan của người yêu cầu về việc đã đăng ký khai sinh nhưng người đó không lưu gữu được bản chính Giấy khai sinh; Bản sao toàn bộ hồ sơ, giấy tờ của người yêu cầu hoặc hồ sơ, giấy tờ, tài liệu khác trong đó có các thông tin liên quan đến nội dung khai sinh của người đó.
 Cũng theo Điều 9 Thông tư số 15/2015/TT-BTP, giấy tờ, tài liệu là cơ sở đăng ký lại khai sinh theo quy định tại Điều 26 của Nghị định số 123/2015/NĐ-CP gồm:
  • Bản sao giấy khai sinh do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp (bản sao được công chứng, chứng thực hợp lệ, bản sao được cấp từ sổ đăng ký khai sinh);

  • Bản chính hoặc bản sao giấy tờ có giá trị thay thế giấy khai sinh được cấp trước năm 1945 ở miền Bắc và trước năm 1875 ở miền Nam;

  • Trường hợp người yêu cầu đăng ký lại khai sinh không có giấy tờ nêu trên thì giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp hợp lệ sau đây là cơ sở để xác định nội dung đăng ký lại khai sinh:

  • + Giấy chứng minh nhân dân, Thẻ căn cước công dân hoặc Hộ chiếu;

+ Sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ chứng minh về nơi cư trú;
+ Bằng tốt nghiệp, Giấy chứng nhận, chứng chỉ, học bạ, hồ sơ học tập do cơ quan đào tạo, quản lý giáo dục có thẩm quyền cấp hoặc xác nhận;
+ Giấy tờ khác có thông tin về họ, chữ đệm, tên, ngày tháng năm sinh của cá nhân
+ Giấy tờ chứng minh quan hệ cha con, mẹ con
 Người yêu cầu đăng ký lại khai sinh có trách nhiệm nộp đầy đủ bản sao các giấy tờ nêu trên (nếu có) và phải cam đoan đã nộp đủ các giấy tờ mình có. Trường hợp người yêu cầu đăng ký lại khai sinh cam đoan không đúng sự thật, cố ý chỉ nộp bản sao giấy tờ có lợi để đăng ký lại khai sinh thì việc đăng ký lại khai sinh không có giá trị pháp lý.
 
 
Hồ sơ đề nghị đăng ký lại khai sinh nộp tại UBND cấp xã nơi đăng ký khai sinh trước đây hoặc nơi khác. Trong trường hợp nộp tại nơi khác thì công chức – tư pháp hộ tịch nơi nhận hồ sơ báo cáo Chủ tịch UBND cấp xã để có văn bản đề nghị UNBD cấp xã nơi đăng ký khai sinh trước đây kiểm tra, xác minh về việc lưu giữ sổ hộ tịch tại địa phương. 

Bạn đọc Nguyễn Ngọc Hoàng (Huỳnh Thúc Kháng, Đống Đa, Hà Nội) hỏi:
Em trai chồng tôi đi làm ăn xa. Ở nhà vợ con đã bán nhà và chuyển nơi ở khác. Khi em tôi về không có chỗ ở nên không còn nơi để nhập hộ khẩu trở lại. Cả gia đình nhà chồng tôi họp bàn đề nghị vợ chồng tôi cho em trai chồng nhập hộ khẩu về ở với vợ chồng tôi. Chỉ nhập ở nhờ nhà thôi. Vậy em chồng tôi nhập hộ khẩu về có được không? 

Bà Phạm Thu Hương trả lời:
Theo Điều 6 Thông tư số 35/2014/TT-BCA, hồ sơ đăng ký thường trú (đăng ký hộ khẩu) bao gồm: Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu(ý kiến của chủ hộ đồng ý cho đăng ký thường trú, chữ ký, ghi rõ họ, tên của chủ hộ và ngày, tháng, năm); Bản khai nhân khẩu; Giấy chuyển hộ khẩu; Hồ sơ đề nghị cấp giấy chuyển hộ khẩu bao gồm sổ hộ khẩu và phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu. 
 Nơi nộp hồ sơ: Công an xã, thị trấn nếu chuyển đến ngoài phạm vi xã, thị trấn của huyện thuộc tỉnh; Công an huyện, quận, thị xã của thành phố trực thuộc Trung ương, Công an thị xã, thành phố thuộc tỉnh nếu chuyển đi ngoài phạm vi huyện, quận, thị xã của thành phố trực thuộc Trung ương; thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
 Giấy tờ chứng minh hoặc xác nhận của UBND cấp xã về việc chuyển đến ở với ông, bà nội, ngoại, cha, mẹ, vợ, chồng, con và anh chị em ruột, cô, dì, chú, bác, cậu ruột, cháu ruột chuyển đến ở với nhau; người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc còn cha, mẹ nhưng cha, mẹ không có khả năng nuôi dưỡng; người khuyết tật mất khả năng lao động, người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi về ở với người giám hộ.

Bạn đọc Trương Thị Hoàng (Quận Đống Đa, Hà Nội) hỏi:
Bố tôi có tài sản là Nhà Đất ở Hà Nội, năm 2010 bố tôi mất, lúc còn sống ông có lập Di chúc, để lại toàn bộ tài sản nhà đất cho con trai, tại thời điểm bố tôi mất tôi mới 17 tuổi, tôi có được hưởng Di sản thừa kế nhà đất của bố tôi để lại không…?
Ông Nguyễn Quốc Việt trả lời:

Tại Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Thời điểm, địa điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết; Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ di sản hoặc nơi có phần lớn di sản.

Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc.

 Luật sư Nguyễn Quốc Việt.

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

 - Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

 - Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.

Theo quy định của Pháp Luật nêu trên, tại thời điểm bố mất, bạn vẫn chưa thành niên, bạn vẫn được hưởng Di sản bằng hai phần ba suất  của một Người thừa kế theo Pháp luật mà không phụ thuộc vào nội dung của Di chúc.

Bạn đọc Nguyễn Minh Khang (Long Biên, Hà Nội) hỏi:
Nếu một người mượn điện thoại của người khác rồi lén xem tin nhắn riêng trên điện thoại mà không được sự đồng ý của người có điện thoại rồi gửi nội dung tin nhắn đi cho người khác xem. Cho tôi hỏi với hành động trên có vi phạm pháp luật không? Tôi phải làm như thế nào để đòi lại công bằng cho tôi khi bị người khác xem lén tin nhắn riêng của tôi mà không được tôi chấp thuận? 
 

Bà Phạm Thu Hương trả lời:
Theo quy định tại tại Điều 38 Bộ luật Dân sự 2015 quy định Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Cụ thể:
1. Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.
2. Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác.
3. Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.
Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp luật quy định.
4. Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”.
 Cũng theo Điều 46 Luật Giao dịch Điện tử 2005 quy định: "Bảo mật thông tin trong giao dịch điện tử:
“1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lựa chọn các biện pháp bảo mật phù hợp với quy định của pháp luật khi tiến hành giao dịch điện tử.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được sử dụng, cung cấp hoặc tiết lộ thông tin về bí mật đời tư hoặc thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác mà mình tiếp cận hoặc kiểm soát được trong giao dịch điện tử nếu không được sự đồng ý của họ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”.
 Đồng thời, Điều 159 Bộ luật Hình sự 2015quy định về tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác như sau:
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:
a) Chiếm đoạt thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông dưới bất kỳ hình thức nào;
b) Cố ý làm hư hỏng, thất lạc hoặc cố ý lấy các thông tin, nội dung của thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông;
c) Nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật;
d) Khám xét, thu giữ thư tín, điện tín trái pháp luật;
đ) Hành vi khác xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín, telex, fax hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Tiết lộ các thông tin đã chiếm đoạt, làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác;
đ) Làm nạn nhân tự sát.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”.
Như vậy, với hành vi trên thì tùy theo mức độ vi phạm mà buộc phải xin lỗi công khai hoặc có thể bị xử phạt hành chính theo quy định pháp luật. Ở mức độ nặng, ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm… thì còn có thể bị xử lý hình sự.

Bạn đọc Đặng Như Quỳnh (Bạch Mai, Hai Bà Trưng, Hà Nội) hỏi:
Con trai tôi bị tai nạn giao thông ngay gần nhà do ô tô đâm vào. Tai nạn dẫn đến con tôi bị gẫy chân bên trái và phải vào viện mổ nắn chỉnh xương và bó bột. Lỗi gây ra tai nạn không phải do con tôi vì như con tôi nói, khi hai xe va vào nhau, cả hai cùng dừng lại, nhưng do ô tô mắc vào bánh xe máy của con tôi, con tôi không lùi xe được buộc ô tô phải lùi, nhưng khi ô tô lùi thì lại tiến vào con tôi dẫn đến cháu bị gãy chân. Sau 2 tuần điều trị con trai tôi mới được ra viện. Khi cháu nằm viện, vợ chồng tôi phải nghỉ việc thay nhau chăm sóc con. Bản thân cháu cũng phải nghỉ làm. Người đâm vào cháu có đến hỏi thăm và thỏa thuận với gia đình nhà tôi về mức bồi thường nhưng chúng tôi thấy không thỏa đáng. Tôi muốn biết pháp luật quy định như thế nào về những trường hợp này?
Bà Phạm Thu Hương trả lời:
Trường hợp của con bạn tôi chưa đề cập đến nội dung ai đúng, ai sai trong trường hợp này vì còn căn cứ vào lời khai của các bên, biên bản hiện trường do cảnh sát giao thông tiến hành... Tôi chỉ đưa ra căn cứ bồi thường thiệt hai do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 Bộ luật Dân sự. 
 Theo đó điều luật quy định: 
 1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại.
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại.
c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.
d) Thiệt hại khác do luật quy định.
 2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Căn cứ vào Điều luật viện dẫn trên bạn có cơ sở để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như cho con mình. 
 Chúc cháu nhanh bình phục, chúc bạn nhiều sức khỏe và may mắn.

Bạn đọc Ngô Văn Minh (Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) hỏi:
Bố mẹ chồng tôi có nhà đất ở Hà Nội, ông mất năm 2018, bà mới mất đầu năm 2020 (khi còn sống ông bà không lập di chúc), chồng tôi mắc bệnh hiểm nghèo mất năm 2015, vợ chồng chúng tôi có hai con, các con của tôi có được hưởng di sản thừa kế của  ông bà nội của cháu để lại không…?
Ông Nguyễn Quốc Việt trả lời:

Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về Thừa kế thế vị

Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.

Từ viện dẫn quy định Pháp luật nêu trên hai cháu được hưởng thừa kế thế vị phần Di sản của bố cháu được hưởng.

Bạn đọc Nguyễn Anh Tú (Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội) hỏi:
Vợ chồng tôi ly hôn, tôi được quyền nuôi con 18 tháng tuổi. Nay bố cháu không cấp dưỡng tiền nuôi con theo quyết định của tòa án. Vậy tôi phải làm như thế nào để buộc bố cháu cấp dưỡng tiền nuôi con vì tôi còn đang rất khó khăn, thu nhập không ổn định?

Bà Phạm Thu Hương trả lời:
Theo quy định của Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi;  Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Như vậy, bạn liên hệ trực tiếp với bố cháu để yêu cầu thực hiện đúng nghĩa vụ cấp dưỡng của người cha. Nếu người cha thực sự có khó khăn không thể thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì phải yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi mức cấp dưỡng. 
Người có hành vi trốn tránh cấp dưỡng thì sẽ bị xử phạt hành chính theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP, phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đối với một trong những hành vi:
 1. Từ chối hoặc trốn tránh  nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau ly hôn; từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ nuôi dưỡng giữa anh, chị, em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu theo quy định của pháp luật.
2. Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi dưỡng cha, mẹ; nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.
Nếu người cha vẫn đủ điều kiện mà trốn tránh không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng còn bị xử lý hình sự về Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng theo Điều 186 Bộ luật Hình sự năm 2015. 
Theo đó, hành vi này bị xử lý như sau: Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Tòa án mà từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt từ 03 tháng đến 02 năm.

Bạn đọc Phạm Lan (Minh Khai, Hà Nội) hỏi:
Con mới tốt nghiệp ra trường, đang trong thời gian đi tìm việc làm, vì do khó khăn em có viết giấy vay của một người số tiền 50 triệu đồng có tính lãi, hẹn 2 tháng trả. Giấy vay chỉ có 2 bên ký. Cũng đã quá hẹn 2 tháng nhưng em còn khó khăn, không có tiền để trả. Bên cho vay dọa, nếu không trả họ sẽ tính lãi thêm mỗi ngày 5 triệu. Trong trường hợp này em không trả được thì có phải đi tù không?
Bà Phạm Thu Hương trả lời:
Theo như bạn trình bày thì đây là giao dịch dân sự vay tài sản được quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015. Điều luật quy định: Hợp đồng vay tài sản là sự thảo thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
Đồng thời Bộ luật Dân sự cũng quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay tại Điều 466. Cụ thể: Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.
Trường hợp vay có lãi  mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:
a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này.
b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Trường hợp của bạn, vì đây là giao dịch dân sự, bạn không bị đi tù khi chưa trả nợ đúng hẹn. Tuy vậy, bạn có nghĩa vụ trả lại số tiền đã vay cùng tiền lãi đã thỏa thuận. Nếu không thực hiện được theo đúng thỏa thuận thì sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại và có thể sẽ bị tính lãi do nợ quá hạn.
Còn về phía người cho vay, nếu người cho vay tính lãi quá cao, vượt quá mức 20%/năm của khoản tiền vay thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
Cũng theo quy định của Luật, nếu người cho vay tính lãi nặng quá hoặc có sự uy hiếp tinh thần người vay thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015.

Bạn đọc Phùng Thanh Hiền (Quận Tây Hồ, Hà Nội) hỏi:
Tôi năm nay 45 tuổi muốn thay đổi tên và tên đệm có được không?
Ông Nguyễn Quốc Việt trả lời:
Theo quy định của Điều 28 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền đổi tên như sau:
1. Cá  nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi tên trong trường hợp sau đây:
a) Theo yêu cầu của người có tên mà việc sử dụng tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của người đó;…
Việc thay đổi tên không làm thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự được xác lập theo tên cũ”.
Theo đó, trong trường hợp bạn muốn đổi tên và tên đệm thì bạn phải chứng minh được tên bạn đang dùng gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
- Cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục thay đổi tên, chữ đệm là UBND cấp huyện nơi bạn đã làm đăng ký khai sinh trước đây (Khoản 3 Điều 46 Luật Hộ tịch năm 2014).
- Về hồ sơ xin thay đổi tên gồm:
+ Tờ khai theo mẫu;
+ Bản chính giấy khai sinh của người thay đổi tên
+ Các giấy tờ liên quan làm căn cứ cho việc thay đổi 
Bạn đọc Võ Thị Mai (Quận Long Biên, Hà Nội) hỏi:

Trách nhiệm của các bên trong trường hợp có cây cối có nguy cơ đổ gẫy hoặc đỗ gẫy gây thiệt hại cho công trình, tài sản… của người khác được quy định như thế nào?

Ông Nguyễn Quốc Việt trả lời:
Căn cứ điều 177 Bộ luật Dân sự: Bảo đảm an toàn trong trường hợp cây cối, công trình có nguy cơ gây thiệt hại
1. Trường hợp cây cối, công trình xây dựng có nguy cơ sập đổ xuống bất động sản liền kề và xung quanh thì chủ sở hữu tài sản thực hiện ngay các biện pháp khắc phục, chặt cây, sửa chữa hoặc dỡ bỏ công trình xây dựng đó theo yêu cầu của chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; nếu không tự nguyện thực hiện thì chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho chặt cây, phá dỡ. Chi phí chặt cây, phá dỡ do chủ sở hữu cây cối, công trình xây dựng chịu.
2. Khi đào giếng, đào ao hoặc xây dựng công trình dưới mặt đất, chủ sở hữu công trình phải đào, xây cách mốc giới một khoảng cách do pháp luật về xây dựng quy định.
Khi xây dựng công trình vệ sinh, kho chứa chất độc hại và các công trình khác mà việc sử dụng có khả năng gây ô nhiễm môi trường thì chủ sở hữu tài sản đó phải xây cách mốc giới một khoảng cách và ở vị trí hợp lý, phải bảo đảm vệ sinh, an toàn và không làm ảnh hưởng đến chủ sở hữu bất động sản khác.
3. Trường hợp gây thiệt hại cho chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì chủ sở hữu cây cối, công trình phải bồi thường.
Luật gia Phạm Thu Hương trả lời bổ sung: Theo điều 604 Bộ luật Dân sự, có quy định người sở hữu cây cối sẽ phải chịu trách nhiệm do cây cối đổ gây ra. Có thể bồi thường về vật chất, sức khỏe, tính mạng. Bồi thường sẽ ưu tiên 2 bên thỏa thuận.
Bạn đọc Nguyễn Thị Lành (Quận Đống Đa, Hà Nội) hỏi:
Vợ chồng có 1 ngôi nhà trên diện tích đất 132m2. Chồng tôi đã mất, tôi muốn viết di chúc để lại tài sản cho các con có được không? Việc viết di chúc có phải công chứng không? Tự tôi viết có giá trị không?
Ông Nguyễn Quốc Việt trả lời:

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết

Theo quy định tại điều 630 Bộ luật Dân sự: Di chúc hợp pháp:

1, Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

 Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

 Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng .

 Nội dung của di chúc:  gồm các nội dung chủ yếu sau:

 Ngày, tháng, năm lập di chúc;

 Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

 Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

 Di sản để lại và nơi có di sản.

 Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa (Điều 631 Bộ luật Dân sự năm 2015).

Từ viện dẫn quy định pháp luật nêu trên, vợ chồng có thể lập Di chúc không có công chứng chứng thực nhưng phải đủ các điều kiện nêu trên.

Về vấn đề bạn đọc hỏi, tôi chia sẻ thêm, có 3 loại di chúc đều có giá trị pháp luật, nhưng trong đó, để có giá trị cao nhất là nên đi công chứng, chứng thực; loại thứ 2 là di chúc có 2 người làm chứng; thứ 3 là di chúc tự lập, tự viết, tự ký tên. Về loại di chúc thứ 3, giá trị pháp lý không được cao, ví dụ sau này khi công bố di chúc, nhiều người muốn gây tranh chấp lấy lý do di chúc giả do vậy nhiều trường hợp phải đưa đi giám định. Do vậy, chúng tôi khuyên người dân khi lập di chúc nên đi chứng thực để có giá trị pháp lý cao nhất, tránh gây tranh cãi. 

Bạn đọc Dương Kiều My (Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội) hỏi:
Mình kết hôn năm 2008, năm 2019, vợ chồng mình có mua mảnh đất nông nghiệp và được nhà chồng cho 250 triệu đồng, sau đó vợ chồng mình bán được 350 triệu đồng. Vợ chồng mình xây dựng nhà nhưng không đủ, bố mẹ đẻ mình có cho thêm 50 triệu đồng và cho vay 100 triệu đồng. Vợ chồng còn vay 200 triệu đồng của ngân hàng và người thân nữa. Chồng mình thì vũ phu, hay đánh đập vợ con, đuổi vợ con ra khỏi nhà. Nếu mình ly hôn thì có được chia tài sản không? Mình có quyền nuôi con không?
Bà Phạm Thu Hương trả lời:
Căn cứ vào Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình quy định tài sản chung của vợ chồng như sau:
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. 
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
 Luật gia Phạm Thu Hương trả lời câu hỏi của độc giả.
Theo quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn thì vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Khi giải quyết cho ly hôn thì vấn đề về phân chia tài sản được quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:
Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
Theo quy định của pháp luật nêu trên thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng còn tính đến công sức đóng góp của vợ chồng để tạo lập ra khối tài sản. Tốt nhất trong trường hợp này hai vợ chồng bạn nên thỏa thuận với nhau về việc phân chia tài sản để đảm bảo quyền lợi của mỗi bên và giảm bớt được việc phải nộp án phí khi yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản.
Về quyền nuôi con khi ly hôn, theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn thì: Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
Hoặc con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.
Như vậy, căn cứ vào các điều luật đã viện dẫn trên và đã tìm được lời giải cho trường hợp của mình. Chúc bạn thật nhiều sức khỏe, may mắn.
Nếu bạn được tòa án giao quyền nuôi con nhưng bạn để con cho ông bà nuôi để đi lao động ở nước ngoài thì người chồng có quyền để nghị giao lại quyền nuôi con.

Bạn đọc Hoàng Minh Tuấn (Láng Hạ, HN) hỏi:

Ngõ nhà mình có 5 hộ. Nhà mình ở phía ngoài, thỉnh thoảng nhà mình có để xe máy ra ngõ đi chung này, mình đã để nhiều năm nay rồi. Việc để xe máy gọn gàng, không cản trở lối đi. Gần đây có một hộ mới đến ở phía trong cùng của ngõ, họ gây khó dễ khi nhà mình để xe máy ra ngõ đi chung. Mình có đề nghị, nếu mình không để họ cũng không được để xe ra ngõ nhưng nhà mình chấp hành họ vẫn để. Vậy mình cứ để có được không?

Bà Phạm Thu Hương trả lời:
Theo quy định tại khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 quy định như sau: “16. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp cảu người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất…”. Như vậy, nhà nước sẽ căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để xác định cá nhân, tổ chức nào có quyền sử dụng đất.
Nếu đúng như bạn trình bày, phần diện tích đất của 5 hộ gia đình trên là ngõ đi chung. Hiện nay, giữa các gia đình đang có tranh chấp về việc để xe máy, tài sản khác ra ngõ đi chung, căn cứ Điều 175 Bộ luật Dân sự năm 2015 về ranh giới giữa các bất động sản quy định:
1. Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp.
Không được lấn, chiếm, thay đổi mốc giới ngăn cách, kể cả trường hợp ranh giới là kênh, mương, hào, rãnh, bờ ruộng. Mọi chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng, duy trì ranh giới chung.
2. Người sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác.
Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của mình và theo ranh giới đã được xác định; nếu rễ cây, cành cây vượt quá ranh giới thì phải xén rễ, cắt, tỉa cành phần vượt quá, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Cũng theo quy định tại khoản 2 Điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015, vị trí, giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi do các bên thỏa thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên; nếu có tranh chấp về lối đi thì có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác xác định.
Như vậy, căn cứ vào các điều luật đã viện dẫn trên, rất mong các hộ gia đình thỏa thuận, thống nhất trong việc sử dụng ngõ đi chung. 
Tuy nhiên theo quy định của Luật, nếu hộ phía trong không có lối đi ra ngoài thì các hộ xung quanh phải tạo điều kiện cho gia đình này có lối đi ra đến lối đi chung.

Bạn đọc Phạm Trung Thành (Quận Hoàng Mai, Hà Nội) hỏi:
 Chồng tôi bị ốm nặng (tai biến) nên không còn khả năng nhận thức được hành vi của mình. Tôi muốn bán một phần nhà đất của mình để có tiền chữa bệnh cho chồng thì có được không? Nếu được thì tôi phải làm những thủ tục gì?
Luật sư Nguyễn Hồng Tuyến trả lời:
Theo quy định của Điều 35 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.
2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:
a) Bất động sản;
b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;
c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.
Như vậy, căn cứ vào Điều luật và áp dụng trong trường hợp này, bạn muốn bán một phần mảnh đất là tài sản chung của hai vợ chồng thì phải có sự đồng ý của cả 2 người.
 Luật sư Nguyễn Hồng Tuyến trả lời câu hỏi của bạn đọc
Tuy nhiên, vì chồng bạn ốm nặng không có khả năng nhận thức được hành vi dân sự của mình thì phải làm đơn đến Tòa án đề nghị tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự. Theo quy định của Điều 53 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự thì trường hợp chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ.
Theo Điều 59 Bộ luật Dân sự năm 2015 về quản lý tài sản của người được giám hộ quy định như sau:
Người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự có trách nhiệm quản lý tài sản của người được giám hộ như tài sản của chính mình; được thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người được giám hộ vì lợi ích của người được giám hộ.
Việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và giao dịch dân sự khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.
Người giám hộ không được đem tài sản của người giám hộ tặng cho người khác. Các giao dục dân sự giữa người giám hộ với người được giám hộ có liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.
Như vậy, căn cứ vào các quy định của pháp luật trên, bạn đã tìm ra cách giải quyết trong trường hợp của mình. Chúc bạn nhiều sức khỏe.

Bạn đọc Nguyễn Văn Long (Quận Hà Đông, Hà Nội) hỏi:
Xin ông cho biết rõ về quyền nhân thân?
Luật sư Nguyễn Hồng Tuyến trả lời:
HIến pháp 2013 dành chương 2 để quy định quyền con người nghĩa vụ công dân.  Bộ luật dân sự năm 2015 đã cụ thể hoá chương 2 hiến pháp gọi tắt là Quyền nhân thân của công dân.
Trước hết, cần hiểu rõ Quyền nhân thân. Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật Dân sự này là quyển dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có liên quan quy định khác.
Việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi phải được người đại diện theo pháp luật của người này đồng ý theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan hoặc theo quyết định của Tòa án.
Việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của người bị tuyên bố mất tích, người đã chết phải được sự đồng ý của vợ, chồng hoặc con thành niên của người đó; trường hợp không có những người này thì phải được sự đồng ý của cha, mẹ của người bị tuyên bố mất tích, người đã chết, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
Bộ luật dân sự 2015 cụ thể hoá quy định các quyền nhân thân bao gồm:
1. Quyền có họ, tên
2. Quyền thay đổi họ
3. Quyền thay đổi tên
4. Quyền xác định, xác định lại dân tộc
5. Quyền được khai sinh, khai tử
6. Quyền đối với quốc tịch
7. Quyền của cá nhân đối với hình ảnh
8. Quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể
9. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín
10. Quyền hiến, nhận mô, bộ phân cơ thể người và hiến, lấy xác
11. Quyền xác định lại giới tính
12. Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình
13. Quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình.
Riêng đối với quyền chuyển đổi giới tình, thì lần đầu tiên Bộ luật dân sự có ghi nhận và đưa vào trong quyền nhân thân.
Có 2 phương thức bảo vệ quyền dân sự là (i) các chủ thể tự bảo vệ các quyền dân sự của mình khi các quyền đó bị xâm phạm theo quy định của Bộ Luật dân sự (ii) yêu cầu cơ quan, tổ chức có thâm quyền thực hiện các biện pháp theo quy định của luật.
Quy định mới về trách nhiệm của toà án trong việc bảo vệ quyền dân sự: “Toà án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự với lý do chưa có điều luật để áp dụng. Trong trường hợp này nếu không có tập quán, không áp dụng được điều luật thì toà án vận dụng nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết.”
ĐẶT CÂU HỎI :