Ngay khi Chính phủ ban hành Quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19”, ông bày tỏ vui mừng và kỳ vọng, với tinh thần sống chung an toàn với đại dịch Covid-19 sẽ là cơ hội để Việt Nam vượt qua những khó khăn và hội nhập quốc tế. 

Theo ông, Nghị quyết 128 của Chính phủ qui định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19” vừa ban hành có vai trò ra sao trong thời điểm hiện nay?

- Nghị quyết 128 có nhiều thay đổi căn bản so với các chỉ thị trước đây nổi bật là đã xác định phương hướng phòng chống dịch lâu dài, tránh cả tâm lý chủ quan coi nhẹ lẫn tâm lý phòng lo quá mức.. Nghị quyết tuy có tên gọi là “tạm thời” nhưng xác định rất rõ định hướng với 3 nội dung quan trọng là: Thích ứng an toàn, linh hoạt với thực tế và  yêu cầu hiệu quả trong kiểm soát dịch Covid-19. Tôi muốn nhấn mạnh đến sự đồng bộ của 3 yêu cầu “an toàn, linh hoạt, hiệu quả” trong phòng chống dịch! Muốn đạt được sự đồng bộ đó, cần khoa học dịch tễ dẫn đường, và trong quản lý điều hành, cần xây dựng ngay bản chiến lược tổng thể cho mục tiêu lâu dài.  Thêm nữa, thực tế quản trị hệ thống, mọi can thiệp đưa ra cần xét trên cơ sở phân tích khoa học và tính đến chi phí bỏ ra, được mất trên toàn diện các mặt, để tránh rơi vào cứng nhắc, chống dịch bằng bất cứ giá nào. Tên gọi “tạm thời” nhắc đến qua thực tế xem xét sẽ có thể điều chỉnh cho phù hợp hơn. Như thế, đặt ra yêu cầu phải luôn theo dõi, giám sát, đánh giá mọi can thiệp đưa ra một cách kịp thời, để phát hiện và điều chỉnh sớm những bất ổn - điều mà trong thời gian qua, ở một số địa phương chưa làm tốt.

Như ông vừa phân tích, Nghị quyết 128 đánh dấu bước chuyển lớn trong tư duy, quan điểm chống dịch của Việt Nam. Tuy nhiên, nhiều địa phương vẫn chưa thích ứng và tiếp tục áp đặt theo hướng “zero Covid”. Như vậy có câu chuyện “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, ông nhìn nhận vấn đề này thế nào?

- Một chính sách đưa ra cho toàn xã hội, từ các cấp chính quyền tới  toàn thể dân chúng, nên đâu đó có nơi chưa thực hiện, chưa làm theo, hoặc làm mà chưa theo kịp thực tiễn cũng là điều dễ hiểu. Bởi thế, khi ra chính sách, kèm theo là truyền thông phải mạnh mẽ  để đảm bảo các chủ thể liên quan hiểu và có sự đồng thuận. Đồng thời, phải có giám sát, đánh giá khách quan diễn biến thực tế khi thực hiện,  những điểm vướng, bất cập, có được sự thay đổi, điều chỉnh thêm ngay. Có thể thấy, ngay tên gọi của Nghị quyết là “tạm thời”, có nghĩa là thời gian tới có thể thay đổi phù hợp hơn với tình hình thực tiễn.

Như chúng ta đã biết, vừa qua xảy ra nhiều bất cập, điển hình như việc nhiều địa phương chưa tổ chức và kiểm soát tốt việc di chuyển của người dân từ địa bàn có dịch về quê; giao thông đi lại, lưu thông hàng hóa ở một số địa phương còn cát cứ, xảy ra tình trạng ách tắc cục bộ, có địa phương còn ban hành các văn bản riêng không đúng theo quy định chung.

Chính vì vậy, các địa phương cần phải ban hành ngay quy định về thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19 để vừa chống dịch hiệu quả, vừa phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Về vấn đề này, Thủ tướng đã  yêu cầu các địa phương khi ban hành văn bản dứt khoát không được trái với các quy định của Trung ương. "Tổ chức thực hiện phải thống nhất trên phạm vi toàn quốc, chấm dứt tình trạng cát cứ, cục bộ mỗi nơi thực hiện một kiểu theo quy định riêng". Theo tôi, nếu làm được điều đó, chúng ta mới có thể “bình thường mới”.

Dịch hiện nay không giống như năm 2020 là dịch ngoại xâm, chúng ta phải xác định nay là dịch nội sinh, nghĩa là virus tồn tại ngay trong cộng đồng cư dân, chúng ta phải chấp nhận một mức độ lây lan của dịch bệnh. Vấn đề là khi đạt được tỷ lệ tiêm chủng vaccine bao phủ cho toàn dân, đặc biệt với những đối tượng nguy cơ cao, như người già, người có bệnh nền thì sự lây lan này không còn nguy hiểm nữa.

Chính phủ đã xác định được trụ cột để phòng chống dịch là giãn cách, cách ly phải hẹp nhất, nhanh nhất; bảo đảm mục tiêu kép nhưng đặt sức khỏe, tính mạng người dân lên trên hết, đảm bảo người dân được bảo vệ tốt nhất trước dịch bệnh, được tiếp cận dịch vụ y tế sớm nhất, nhanh nhất, ngay từ cơ sở. Nhưng xem ra đây là bài toán khó của các địa phương khi còn nhiều bất cập, hệ thống y tế chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân?

- Theo tôi, hệ thống y tế của Việt Nam còn nhiều việc phải làm. Bài học kinh nghiệm về công tác chống dịch vừa qua còn đó.

Điểm phải làm đầu tiên, lớn nhất, là chuyển đổi tư duy, nói đến hệ thống y tế phải gồm 3 chủ thể: Công, tư, và nhân đạo phi vụ lợi. Từng chủ thể có vai trò đặc thù riêng, cùng tồn tại và bổ sung lẫn nhau làm nên sự hoàn chỉnh của hệ thống y tế. Muốn chống dịch tốt, thì phải có sự tham gia của toàn hệ thống, tức cả 3 thành phần y tế, và phát huy hết điểm mạnh của từng thành phần này. Bỏ qua y tế tư nhân và y tế phi vụ lợi trong phòng chống dịch, là tự làm yếu lực lượng y tế.  

Điểm phải làm thứ hai, là trả lại cho tuyến chăm sóc sức khỏe ban đầu vai trò vị trí trong phòng chống dịch bệnh. Chống dịch vừa qua một thời gian dài coi tất cả các trường hợp nhiễm là bệnh, và việc dồn toàn bộ số ca nhiễm vàohệ thống bệnh viện là rất không hiệu quả,  không khoa học. bởi  thực chất 80-90% F0 đó chỉ nên theo dõi ở tuyến y tế cơ sở.

Điểm điều chỉnh lớn thứ ba, là công tác y tế dự phòng. Hoạt động thu thập thông tin dịch tễ, phân tích và dự báo dịch cùng phát hiện các yếu tố nguy cơ phát sinh phát triển dịch bệnh phải là chức năng chính, hoạt động chính, thường xuyên, của y tế dự phòng, Hệ thống giám sát dịch phải được tổ chức lại, đào tạo lại, xuyên suốt từ tuyến cơ sở tới các trung tâm CDC và viện vệ sinh dịch tễ khu vực, đầu ngành. Vừa qua, nhìn vào y tế dự phòng, chỉ thấy nổi lên là phun hóa chất khử khuẩn, xét nghiệm, tiêm vaccine. Theo tôi cần phải đặt lại cho đúng cấu trúc chức năng của toàn bộ hệ thống y tế dự phòng, đi từ cơ sở tới viện đầu ngành, làm lại hệ thống đào tạo nhân lực cho y tế dự phòng. 

Điểm điều chỉnh thứ tư, là xác định đúng vai trò và vị thế của khối y tế tư nhân, y tế nhân đạo phi vụ lợi  trong phòng chống dịch bệnh. Thời gian qua, chưa có chính sách huy động được họ tham gia vào công tác chống dịch, hệ thống y tế tư nhân gần như đứng ngoài. Có vài bệnh viện tham gia điều trị bệnh nhân Covid-19 nhưng chính sách tài chính không rõ ràng đặt họ vào nguy cơ bất ổn tài chính, không bền vững. Với y tế nhân đạo phi lợi nhuận, hoạt động hoàn toàn theo tinh thần tự nguyện, tự phát, và cũng không có chính sách để đảm bảo huy động cao nhất sự tham gia có hiệu quả của chủ thể này.

Điểm lớn nữa, là  tình trạng các trường đại học, viện nghiên cứu thờ ơ với công tác nghiên cứu khoa học phục vụ phòng chống dịch. Chỉ số hàng trăm bài báo khoa học đăng tạp chí quốc tế mỗi năm để lọt vào danh sách các trường đại học hàng đầu trên thế giới, nhưng có thể nói, trong gần hai năm qua, chẳng thấy bài báo khoa học nào nằm trong nhóm nghiên cứu phục vụ định hướng chính sách phòng chống dịch hiệu quả được tạo ra! Đến các bài báo phản biện chính sách và đánh giá công tác phòng chống dịch trên thực tế, cũng hiếm khi đến từ trường đại học, viện nghiên cứu. Thiếu nghiên cứu khoa học, các can thiệp phòng chống dịch dễ rơi vào chủ quan, duy ý chí, thiếu thực tế.

Ông có thể lý giải thêm về thách thức cũng như cơ hội của Việt Nam khi thích  ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19?

 Đây là thời điểm cơ hội và thách thức đan xen lẫn nhau để Việt Nam vươn lên.

Sau một thời gian dài phong tỏa trên diện rộng tại nhiều quốc gia trên thế giới, hiện bắt đầu bình thường mới, nước nào tạo được môi trường an toàn, kiểm soát dịch hiệu quả, có  hành lang pháp lý tốt, sẽ sớm đưa đất nước trở lại trạng thái ổn định, mở rộng hoạt động thương mại, tận dụng cơ hội từ FTA, chuyển đổi số... thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề an sinh xã hội.

Đây cũng là cơ hội để mọi cá nhân, cộng đồng, tổ chức và giai tầng xã hội, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đổi mới tư duy, tầm nhìn mới, cách làm mới để đạt được những mục tiêu mà Nghị quyết đề ra. 

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ hiện nay là sớm đưa cuộc sống trở lại bình thường theo phương án thích ứng an toàn với dịch bệnh. Ngoài nghị quyết vừa ra, cần có thêm một chiến lược tổng thể, dài hạn về phòng chống, kiểm soát dịch bênh đảm bảo  mục tiêu phát triển bền vững.

Dịch bệnh vừa qua đã giúp nhìn rõ hơn điểm mạnh điểm yếu của hệ thống y tế nói riêng và hệ thống quản trị điều hành xã hội nói chung. Không chỉ Chính phủ, Đảng, Quốc hội, mà toàn thể dân chúng cùng nhận ra từ những diễn biến thực tế. Trạng thái nhận thức và tâm lý đó, chính là thời cơ để cải cách hệ thống y tế, cải cách hệ thống quản trị điều hành xã hội, theo hướng khắc phục điểm yếu, phát huy điểm mạnh, với sự tham gia của toàn thể các lực lượng có trong xã hội, mà dịch bệnh Covid-19 giúp bộc lộ ra. 

Cũng chưa bao giờ, mà người dân cùng chính phủ nhận ra mối quan hệ chặt chẽ, hữu cơ giữa hệ thống y tế, đặc biệt y tế dự phòng, với hoạt động kinh tế xã hội, ổn định chính trị như bây giờ. Chưa bao giờ, chúng ta có được cơ hội dễ dàng để giáo dục người dân chuyển đổi ý thức, hành vi  lối sống vị kỷ, nặng về tiêu thụ vật chất hủy hoại môi trường sinh thái bao năm qua, sang thực hành tốt theo khoa học y tế dự phòng, hướng tới sức khỏe sinh thái, như bây giờ. 

Dịch bệnh Covid-19 do vậy, không chỉ đưa lại thách thức, mà còn đang giúp tạo ra nhiều cơ hội thúc đẩy sáng tạo phục vụ cải cách, nâng cao hiệu quả quản lý, quản trị hệ thống nhà nước các cấp, cả trung ương và địa phương, chuyển đổi hành vi cá nhân, hướng đến một xã hội có lối sống nhân bản hơn, khoa học hơn, sinh thái hơn. Tận dụng được các cơ hội này, chắc chắn đưa lại tiềm năng phát triển mang tính ổn định, bền vững hơn trong thời gian tới. 

 

Dịch Covid-19 bùng phát và công tác phòng chống dịch là thước đo năng lực quản trị xã hội, quản trị quốc gia, ông nghĩ sao về vấn đề này?

Năng lực quản trị xã hội, quản trị quốc gia, được thể hiện qua chính sách đưa ra giải quyết những vấn đề tồn tại trên thực tế của xã hội đó, đất nước đó, đi kèm hiệu quả thực thi các chính sách. Tức là, năng lực quản trị tốt, khi chính sách đưa ra phù hợp, và tổ chức triển khai chính sách giải quyết vấn đề hiệu quả.

Đại dịch Covid-19 đặt tất cả các nước trên thế giới vào một “trạng thái khẩn cấp” mới hoàn toàn. Dịch lan đến mỗi nước, mức độ lây lan nhanh chóng đến đâu và hậu quả để lại lớn đến nhường nào, phụ thuộc vào chính sách phòng chống dịch đặc thù của từng nước.

Bởi thế, rất đúng khi nói công tác phòng chống dịch Covid-19, tức kết quả kiểm soát dịch bệnh và mức độ hạn chế tổn thất hữu hiệu tới đâu trên thực tế, chính là thước đo năng lực quản trị xã hội, quản trị quốc gia,

Nhưng không phải chỉ có thế! Theo tôi, đại dịch Covid-19 đã bộc lộ tối thiểu 3 năng lực trọng yếu của mỗi địa phương, môi quốc gia. Thứ nhất là năng lực quản trị xã hội, thứ hai là năng lực nghiên cứu khoa học, thứ ba là năng lực quản lý thông tin truyền thông. Tôi muốn nhấn mạnh vào năng lực thứ hai và thứ ba. Bởi hai năng lực này, là một phần căn bản tạo nên năng lực quản trị xã hội tốt.

 Theo tôi, đại dịch Covid-19 ở nước ta đã giúp bộc lộ hạn chế hàng đầu  chính là năng lực nghiên cứu khoa học giúp cung cấp bằng chứng cho việc lập chính sách. Dịch Covid-19 là loại hình dịch bệnh hoàn toàn mới, muốn giải quyết được phải có khoa học dẫn đường. Chính sách phòng chống dịch trong thời gian qua, sở dĩ rơi vào tình trạng “đùng đoàng”, thay đổi khôn lường, là bởi thiếu năng lực nghiên cứu, đặc biệt loại hình nghiên cứu dịch tễ học và nghiên cứu nâng cao hiệu quả vận hành quản trị hệ thống. 

Tôi hình dung người làm chính sách phòng chống dịch phải xoay xở khốn khó ra sao trong sự thiếu vắng hỗ trợ của đội ngũ khoa học trong nước khi tiến hành soạn thảo chính sách. Chừng nào năng lực nghiên cứu khoa học phục vụ làm chính sách mạnh lên, chừng ấy mới hy vọng năng lực quản trị hệ thống đổi mới tốt lên.

Một điểm nữa là về quản lý thông tin, không chỉ riêng Việt Nam mà trên toàn cầu. Xu hướng bùng nổ thông tin, đôi khi thông tin về khoa học “hàng chợ” lấn lướt thông tin khoa học khách quan khiến cho cuộc chiến chống dịch Covid-19 nói riêng và các dịch bệnh khác nói chung gặp không ít khó khăn. Năng lực quản lý thông tin truyền thông được thể hiện ra có hay không tạo ra và duy trì được nguồn thông tin “khoa học vì dân” trong hệ thống truyền thông của đất nước đạt được sự tin cậy cao và rộng rãi trong dân chúng.  Muốn có năng lực này, phải xuất phát từ nhu cầu của chính xã hội cần “biết sự thật khách quan” , để rồi hệ thống truyền thông vận hành đáp ứng theo mục tiêu đó. 

Theo ông, bài học gì cần rút ra trong việc ứng phó với đợt dịch lần thứ 4 này?

Thứ nhất, chúng ta không được say sưa trên thắng lợi và có tâm lý chủ quan. Nếu như năm 2020 công tác chống dịch Việt Nam thành công, là bởi dịch bệnh chỉ mới ở hình thái “dịch ngoại xâm”, tức ca bệnh từ ngoài vào, hình thành ổ dịch lẻ tẻ mà thôi, việc thực hiện sớm điều tra, truy vết, xét nghiệm cách ly triệt để phát huy tác dụng tốt. Nhưng năm 2021, với chủng Delta khả năng lây nhiễm và tốc độ lan truyền cao, dịch nhanh chóng chuyển sang hình thái nội sinh,  cứ áp dụng chính sách, chiến lược cũ, khiến thất bại. Bài học ở đây, là không chủ quan! Ở tầm người làm chính sách và ra chính sách cần khách quan, tức cần tư duy khoa học trong đánh giá mọi kết quả đạt được.

Thứ hai, chúng ta nhận ra năng lực nghiên cứu khoa học rất yếu, khâu dự báo tình hình dịch tễ chưa đúng với tình hình thực tiễn, hoạt động làm chính sách chưa được hỗ trợ bởi các bằng chứng nghiên cứu khoa học, đặc biệt phần nghiên cứu vận hành hệ thống theo hướng đồng bộ, hiệu quả. Bài học là, muốn chính sách tốt, ổn định, phải thúc đẩy năng lực nghiên cứu khoa học và công tác phản biện chính sách, đặc biệt từ khối các nhà khoa học, phản biện độc lập. 

Thứ ba, cần phải đưa các viện: Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương và Viện Vệ sinh dịch tễ các khu vực, trở lại trạng thái làm tốt chức năng quản lý và vận hành hệ thống giám sát dịch bệnh, phân tích và dự báo tình hình dịch bệnh. Rồi khi chính sách được ban hành, cần thúc đẩy, tạo điều kiện hình thành môi trường có sự tham gia của nhiều bên trong theo dõi, giám sát, đánh giá chính sách. Công tác này  càng độc lập bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu.

Thứ tư, dịch bệnh mang tính lây nhiễm cao, công tác phòng chống dịch cần phải có hẳn chính sách bảo vệ nhóm yếu thế, nhóm nguy cơ cao chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh để đảm bảo các chính sách an sinh xã hội. Về mặt này, kinh nghiệm rút ra, là bộ phận làm chính sách cả trung ương và chính quyền địa phương, đặc biệt các TP lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, cần tận dụng triệt để các khuyến cáo quốc tế. Nếu năm 2020 Việt Nam tương đối an toàn, thì rất nhiều nước đã trả giá đắt khi dịch bệnh hoành hành dữ dội trong lúc chưa có vaccine, và những bài học năm 2020 của các nước này, đã được WHO rút gọn lại trong khuyến cáo các nước đang phát triển lập chính sách quốc gia ứng phó chống dịch hiệu quả.

 Thời gian qua, các tỉnh, thành lớn như TP Hồ Chí Minh rất chậm tham khảo những bài học này, khiến không có được một kế hoạch tổng thể (master plan) phòng chống dịch có đủ cơ bản các nhóm đầu việc cơ bản phải làm như đã nêu trong khuyến cáo của WHO ra tháng 2/2021. Thiếu kế hoạch bảo vệ nhóm yếu thế khi phong tỏa, sai lầm trong chiến lược triển khai tiêm vaccine bảo vệ nhóm người già, người nghèo, người bệnh nền… khiến phải trả giá đắt và bài học này phải được đưa vào khắc phục không để tái diễn trong chính sách đổi mới phòng chống dịch tới đây.

Tôi đánh giá Nghị quyết 128 của Chính phủ qui định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19” là dấu ấn thể hiện có sự thay đổi cơ bản trong quan điểm phòng chống dịch. Còn nhiều việc phải làm từ các bộ ngành, đặc biệt từ Bộ Y tế, và chính quyền địa phương để cụ thể hóa nội dung của nghị quyết vào thực tế, tạo nên sự thay đổi thực sự trong cách ứng phó với dịch đảm bảo phát triển kinh tế xã hội, sớm đưa đất nước trở lại “bình thường mới” và hội nhập quốc tế.

Xin cảm ơn ông!