DÒNG SỰ KIỆN. * HÀ NỘI 2020 - HỢP TÁC ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN * GÓP Ý DỰ THẢO VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XVII ĐẢNG BỘ TP HÀ NỘI * KỲ HỌP THỨ 9, QUỐC HỘI KHÓA XIV * ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ CÁC CẤP VÀ ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG * ĐẠI DỊCH COVID-19

Bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp vượt hạn mức

Hồng Thái
14-04-2020 16:45
Kinhtedothi - Vợ chồng tôi được Nhà nước giao cho một thửa đất nông nghiệp. Năm 2010, vợ chồng tôi nhận chuyển nhượng thêm thửa đất liền kề để mở rộng canh tác, nuôi trồng ổn định từ đó đến nay.

Xin hỏi, khi Nhà nước thu hồi cả hai thửa đất thì vợ chồng tôi có được bồi thường cho thửa đất mà vợ chồng tôi nhận chuyển nhượng từ người khác hay không? (Tôi có nghe thông tin, vì thửa đất gia đình tôi nhận chuyển nhượng vượt hạn mức nên không được bồi thường).

Nguyễn Văn Tuyến, huyện Hoài Đức, Hà Nội

Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật (Sở Tư pháp Hà Nội) trả lời:

Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất.

Theo khoản 3 Điều 26 Luật Đất đai năm 2013, “khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng thì người sử dụng đất được Nhà nước bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật”.

 Ảnh minh họa

Trước tiên, để được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, vợ chồng bạn phải có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyên sở hữu đối với tài sản gắn liền với đất mà chưa được cấp.

Nếu đáp ứng điều kiện, với tư cách là hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất, vợ chồng bạn được bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại theo quy định tại khoản 1 Điều 77 của Luật này như sau:

Diện tích đất nông nghiệp được bồi thường bao gồm diện tích trong hạn mức theo quy định tại Điều 129, Điều 130 của Luật này và diện tích đất đo được nhận thừa kế;

b) Đối với diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức quy định tại Điều 129 của Luật này thì không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại;

c) Đối với diện tích đất nông nghiệp do nhận chuyển quyền sử dụng đất vượt hạn mức trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì việc bồi thường, hỗ trợ được thực hiện theo quy định của Chính phủ”.

Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực từ ngày 01/7/2014, trong khi vợ chồng bạn nhận chuyển nhượng thửa đất nông nghiệp liền kề từ năm 2010. Vì vậy, việc bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp vượt hạn mức do nhận chuyển quyền sử dụng đất được hướng dẫn tại Điều 4 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ như sau:

“1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất trước ngày 01/7/2014 do được thừa kế, tặng cho, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ người khác theo quy định của pháp luật mà đủ điều kiện được bồi thường thì được bồi thường, hỗ trợ theo diện tích thực tế mà Nhà nước thu hồi.

2. Đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp quy định tại Khoản 1 Điều này nhưng không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai thì chỉ được bồi thường đối với diện tích đất trong hạn mức giao đất nông nghiệp. Đối với phần diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức giao đất nông nghiệp thì không được bồi thường về đất nhưng được xem xét hỗ trợ theo quy định tại Điều 25 của Nghị định này.

3. Thời hạn sử dụng đất để tính bồi thường đối với đất nông nghiệp do hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng có nguồn gốc được Nhà nước giao đất để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai, được áp dụng như đối với trường hợp đất được Nhà nước giao sử dụng ổn định lâu dài”.

Vợ chồng bạn cần nghiên cứu quy định nêu trên để xác định chính xác mình có được bồi thường, hỗ trợ như thế nào.

Ví dụ: Diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức nhận chuyển nhượng từ người khác nhưng đủ điều kiện được bồi thường thì được bồi thường, hỗ trợ theo diện tích thực tế khi Nhà nước thu hồi.

Trường hợp đất nông nghiệp đang sử dụng nhưng không có Giấy chứng nhận hoặc không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận thì chỉ được bồi thường đối với diện tích đất trong hạn mức giao đất nông nghiệp. Phần diện tích vượt hạn mức không được bồi thường về đất, mà chỉ được xem xét hỗ trợ theo quy định tại Điều 25 của Nghị định này.

Đó là: “Ngoài việc hỗ trợ quy định tại các Điều 19, 20, 21, 22, 23 và 24 của Nghị định này, căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định biện pháp hỗ trợ khác để bảo đảm có chỗ ở, ổn định đời sống, sản xuất và công bằng đối với người có đất thu hồi; trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 75 của Luật Đất đai thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét hỗ trợ cho phù hợp với thực tế của địa phương; trường hợp đặc biệt trình Thủ tướng Chính phủ quyết định”.

Có nghĩa là, việc hỗ trợ đối với phần diện tích vượt hạn mức không được bồi thường về đất do UBND cấp tỉnh xem xét, quyết định hoặc trình Thủ tướng Chính phủ quyết định phù hợp với thực tế của địa phương.