DÒNG SỰ KIỆN. * BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHÓA XV VÀ HĐND CÁC CẤP * ĐẠI DỊCH COVID-19 * CUỘC THI VIẾT “BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN TP HÀ NỘI”

Xử lý hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng

H.T
03-01-2021 15:19
Kinhtedothi - Vợ chồng chị đồng nghiệp của tôi đang xảy ra mâu thuẫn rất nghiêm trọng, nguy cơ cao dẫn đến ly hôn. Nguyên nhân là do anh chồng cặp bồ, có con riêng với người khác (cô này chưa có chồng và trước kia là giúp việc của gia đình anh chị).
Tin liên quan
  • Chuyển mục đích sử dụng đất trong thời kỳ hôn nhân Chuyển mục đích sử dụng đất trong thời kỳ hôn nhân

Xin hỏi, nếu người vợ tố cáo, anh chồng và người phụ nữ kia có thể bị xử lý hình sự hay không?

Nguyễn Thị Hà, quận Đống Đa, Hà Nội

Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật (Sở Tư pháp Hà Nội) trả lời:

Một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là “Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng”.

Để bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình, một trong những hành vi bị pháp luật nghiêm cấm được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 của Luật này là “người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”.

 

Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng. Việc anh đồng nghiệp của bạn đang có vợ mà sinh sống và có con với người khác, đồng nghĩa cả hai người này đã vi phạm điều cấm và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Cụ thể: Khoản 1 Điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ quy định phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

“a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

đ) Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn”.

Như vậy, người chồng sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng vì đang có vợ mà chung sống như vợ chồng với người khác. Người phụ nữ có con với anh ta cũng bị phạt mức tiền tương tự vì chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người biết rõ là đang có vợ.

Thậm chí, nếu tính chất, mức độ và hậu quả xảy ra lớn, họ còn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng, được quy định tại Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015 như sau:

“1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó”.

Người phụ nữ kia đã từng là giúp việc trong gia đình của vợ chồng anh chị đồng nghiệp của bạn nên chắc chắn biết rõ tình trạng hôn nhân của anh chồng, nhưng vẫn quan hệ và có con với anh ta. Nếu hành vi này dẫn đến vợ chồng anh chị đồng nghiệp của bạn ly hôn, người này và anh chồng có thể bị xử lý hình sự theo quy định nêu trên.