Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV
Logo
Đăng ký mua gói ấn phẩm|Đăng nhập

Cải cách thể chế, tạo nguồn lực cho tăng trưởng hai con số

Kinhtedothi- Năm 2025, nền kinh tế Việt Nam thể hiện khả năng chống chịu cao và đạt kết quả tích cực trong năm 2025, bất chấp những thách thức phải đối mặt. Năm 2026, mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2026 ở mức từ 10% trở lên. Đây là một mục tiêu rất thách thức. Kỳ vọng tăng trưởng cao hơn đặt ra áp lực lớn đối với điều hành vĩ mô, cải cách thể chế và huy động nguồn lực.

Trụ cột xuất khẩu, đầu tư công

Năm 2025, nền kinh tế Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức và biến động bất định để đạt được những phát triển đáng kể. Quy mô kinh tế tăng từ 346 tỷ USD năm 2020 (xếp thứ 37 thế giới) lên 510 tỷ USD năm 2025 (xếp thứ 32 thế giới). Thu hút vốn FDI ấn tượng, bổ sung nguồn lực tăng trưởng cho kinh tế. Cơ cấu nền kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm dần tỷ trọng đóng góp của khu vực nông nghiệp, tăng tỷ trọng đóng góp của các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ.

Đặc biệt, kim ngạch xuất, nhập khẩu năm 2025 vượt mốc 900 tỷ USD đưa Việt Nam gia nhập nhóm các quốc gia có giá trị kim ngạch xuất, nhập khẩu cao nhất thế giới; duy trì trạng thái xuất siêu của nền kinh tế.

Kinh tế năm 2026 còn nhiều thách thức. Ảnh minh hoạ

Trong bối cảnh khu vực tư nhân và xuất khẩu còn đối mặt nhiều rủi ro, Chính phủ tiếp tục kiên trì quan điểm lấy đầu tư công dẫn dắt, tập trung vào các dự án hạ tầng chiến lược, liên vùng, có tính lan tỏa cao. Đến hết tháng 11/2025, vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước tăng gần 27% so với cùng kỳ- mức cao nhất trong nhiều năm- góp phần trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm và cải thiện niềm tin thị trường.

Song song với đầu tư hạ tầng cứng, chuyển đổi số được xác định là trụ cột của quản trị quốc gia hiện đại, gắn chặt với cải cách thể chế, kỷ cương hành chính và trách nhiệm người đứng đầu. Dữ liệu và nền tảng số ngày càng được coi là công cụ quan trọng nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành.

Theo Giám đốc quốc gia ADB, thành công kinh tế của Việt Nam năm 2025 nhờ vào các yếu tố bên ngoài và trong nước, với thương mại và đầu tư tăng trưởng mạnh mẽ cùng các chính sách hiệu quả.

"Chính phủ Việt Nam đã thể hiện những nỗ lực rất lớn trong việc triển khai các cải cách sâu rộng nhằm hiện thực hóa tham vọng tăng trưởng, trong đó chú trọng tới việc đẩy nhanh cải cách thể chế rất hiệu quả, kịp thời và rất đáng ghi nhận", ông Chakraborty nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, các cải cách toàn diện trong chính sách phát triển – bao gồm khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, phát triển khu vực tư nhân, phát triển con người trong giáo dục và y tế, cũng như bảo đảm an ninh năng lượng – đều phù hợp và mang tính cấp thiết, Giám đốc quốc gia ADB bày tỏ.

Đột phá thể chế, khơi thông nội lực, phát triển thị trường tài chính

Năm 2026, nền kinh tế đứng trước yêu cầu tăng trưởng hai con số để đến năm 2030, GDP bình quân đầu người đạt 8.500 USD, tỷ lệ đóng góp của năng suất tổng hợp các nhân tố trong GDP trên 55% và tăng năng suất lao động xã hội đạt mức 8,5%.

Bước sang năm 2026, triển vọng kinh tế Việt Nam vẫn đan xen giữa thách thức và cơ hội. Kinh tế thế giới còn nhiều biến động chịu tác động của căng thẳng địa chính trị, lạm phát...OECD, IMF đều dự báo tăng trưởng GDP của thế giới năm 2026 sẽ chậm lại. Còn theo Cơ quan Thương mại và Phát triển Liên hợp quốc (UNCTAD), tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2026 vẫn thấp và chỉ ở mức 2,6% như năm 2025.

Trong nước, những tháng cuối năm, lãi suất VND chịu áp lực tăng nhanh, tiệm cận mức cao nhất trong vòng ba năm, khi nhu cầu tín dụng tăng mạnh theo chu kỳ mùa vụ. Lạm phát cũng nhích lên, với CPI tháng 11 tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 3,58% so với cùng kỳ, dù vẫn thấp hơn đáng kể so với mục tiêu 4,5-5% mà Quốc hội đề ra.

Trong bối cảnh đó, kỳ vọng tăng trưởng cao hơn đặt ra áp lực lớn đối với điều hành vĩ mô, cải cách thể chế và huy động nguồn lực.

“Năm 2026 không chỉ nằm ở việc duy trì tốc độ tăng trưởng, mà quan trọng hơn là cách thức tạo dựng các động lực tăng trưởng bền vững, nâng cao chất lượng tăng trưởng và củng cố niềm tin của doanh nghiệp, người dân và nhà đầu tư”- GS.TS Hoàng Văn Cường nhận định.

Ông Cường phân tích: tăng trưởng năm 2025 dựa nhiều vào xuất khẩu với mức tăng khoảng 16%, trong khi khả năng duy trì đà tăng này trong năm 2026 là không lớn. Nói cách khác, động lực xuất khẩu đã được khai thác mạnh trong năm 2025, khiến dư địa cho năm tiếp theo suy giảm.

Để duy trì tăng trưởng cao trong thời gian dài, Việt Nam cần tiếp tục thúc đẩy các cải cách nền tảng đầu tư và tiêu dùng, đồng thời duy trì ổn định kinh tế vĩ mô. Nhu cầu tiêu dùng cải thiện với thị trường 100 triệu dân là lực đẩy mạnh cho thị trường bán lẻ tăng trưởng mạnh mẽ trong năm 2025 và là nền tảng tốt cho thị trường bước vào giai đoạn mới.

Bên cạnh đó, mô hình tăng trưởng kinh tế chuyển trọng tâm từ các động lực truyền thống sang động lực tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, cần cách tiếp cận theo hướng mới, song song với những đột phá chiến lược về thể chế, hạ tầng.

Theo Trưởng đại diện JETRO tại TP Hồ Chí Minh- ông Okabe Mitsutoshi, mục tiêu tăng trưởng 10% trở lên của Chính phủ Việt Nam năm 2026 đầy thách thức. Mục tiêu "tham vọng" cũng phản ánh quyết tâm của Chính phủ Việt Nam trong việc thúc đẩy kinh tế tăng tốc, đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.

Còn theo Giám đốc quốc gia ADB tại Việt Nam Shantanu Chakraborty, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần tạo được vòng tuần hoàn tích cực giữa: Duy trì đà xuất khẩu mạnh, đa dạng hóa thị trường, triển khai thông suốt thủ tục đầu tư tư nhân, mở rộng đầu tư công, kiểm soát lạm phát hiệu quả, trong đó động lực tăng trưởng cần đến từ sức bật của doanh nghiệp tư nhân, như tinh thần của Nghị quyết 68-NQ/TW.

Đầu tư công tiếp tục được xem là trụ cột quan trọng cho tăng trưởng. Chi tiêu cho cơ sở hạ tầng hiện chiếm khoảng 6-7% GDP, cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực. Trong bối cảnh dư địa chính sách tiền tệ thu hẹp, dư địa tài khóa vẫn tương đối rộng khi tỉ lệ nợ công của Việt Nam ở mức thấp nhất ASEAN, việc đẩy mạnh đầu tư công càng trở nên có ý nghĩa chiến lược.

Các chuyên gia và các tổ chức kinh tế cũng nhấn mạnh đến tiếp tục đẩy mạnh cải cách thế chế. TS. Cấn Văn Lực đề xuất một loạt giải pháp. Trước hết là triển khai hiệu quả các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị và các luật mới được Quốc hội ban hành, đặc biệt là khoảng 7-8 nghị quyết mang tính nền tảng. Thứ hai, cần cải thiện thực chất môi trường đầu tư kinh doanh, đáp ứng yêu cầu cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục theo chỉ đạo của Thủ tướng, qua đó củng cố niềm tin cho doanh nghiệp và nhà đầu tư. Thứ ba là tháo gỡ kịp thời các nút thắt cho tăng trưởng và an sinh xã hội, nhất là những vướng mắc phát sinh trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cần được chỉ đạo quyết liệt để xử lý ngay từ quý I/2026.

Đặc biệt, ông lưu ý đến khu vực hộ kinh doanh và doanh nghiệp tư nhân, vốn đóng góp tỷ trọng lớn cho tăng trưởng nhưng đang gặp nhiều khó khăn. Các kiến nghị trọng tâm gồm: Hướng dẫn rõ ràng việc áp dụng thuế kê khai; không hồi tố chính sách; tăng cường hỗ trợ kỹ thuật, phần mềm; đẩy mạnh truyền thông để giảm tâm lý lo ngại. Khi niềm tin bị ảnh hưởng, người dân và doanh nghiệp sẽ dè dặt trong kinh doanh và tiêu dùng, tác động ngược trở lại nền kinh tế.

Đối với thị trường tài chính, rủi ro từ các biến động bên ngoài vẫn hiện hữu, có thể gây áp lực tạm thời lên cung - cầu ngoại tệ trong nước. Do đó, các doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, cần chủ động hơn trong phòng vệ rủi ro tỷ giá và lãi suất để bảo vệ hiệu quả kinh doanh. Theo phân tích của TS. Cấn Văn Lực, cơ cấu vốn hiện nay vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng. Vì vậy, trong nhiệm kỳ tới, cần đa dạng hóa nguồn vốn, đặc biệt là tăng mạnh vai trò của thị trường chứng khoán, qua đó giảm dần sự lệ thuộc vào tín dụng, bảo đảm tăng trưởng bền vững và an toàn hơn cho nền kinh tế.

Trích dẫn
Trích dẫn 1

Thách thức lớn của nhiệm kỳ tới không chỉ nằm ở việc ban hành chính sách, mà ở năng lực thực thi. Muốn doanh nghiệp, người dân cùng chung tay hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số thì môi trường kinh doanh phải thông thoáng. Năng lực của đội ngũ ở cấp cơ sở còn nhiều hạn chế, trong khi đây lại là nơi trực tiếp cung cấp dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp. Nếu năng lực chuyên môn không bảo đảm, công việc sẽ ách tắc, kéo theo khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và ảnh hưởng tiêu cực đến cả phía cầu của nền kinh tế. (TS. Nguyễn Sĩ Dũng - nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội )

Trong 3 yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế là lao động, đầu tư và khoa học công nghệ thì đầu tư vẫn là yếu tố quan trọng nhất đối với Việt Nam hiện nay. Đầu tư công sẽ tiếp tục được duy trì ở mức cao, thậm chí gia tăng trong năm 2026. Nguồn vốn này sẽ đóng vai trò trụ cột trong việc kích thích tổng cầu và dẫn dắt tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, cần mở rộng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Việc FDI tăng gần 9% trong năm 2025 là tín hiệu tích cực và cần tiếp tục được phát huy trong nhiệm kỳ tới. Huy động nguồn lực nước ngoài đầu tư cho năng lượng. Nguy cơ thiếu hụt năng lượng trong thập kỷ tới là rất lớn, không chỉ với Việt Nam mà trên phạm vi toàn cầu. Ngoài ra, mở rộng các khu thương mại tự do như một công cụ thu hút FDI và thúc đẩy nội địa hóa công nghệ thông qua chuyển giao khoa học - công nghệ từ nước ngoài. (TS Lê Xuân Nghĩa- Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ)

Tăng trưởng cao đòi hỏi vốn dài hạn. Cần sớm vận hành trung tâm tài chính quốc tế, thị trường trái phiếu xanh, quỹ đầu tư mạo hiểm và các công cụ tài chính mới như tài sản số, tín chỉ carbon, trái phiếu xanh, mô hình thử nghiệm công nghệ tài chính. Khi các kênh huy động vốn phi ngân hàng phát triển, doanh nghiệp sẽ có nguồn lực để mở rộng đầu tư mà không gây áp lực lên hệ thống tín dụng. (PGS.TS Nguyễn Hữu Huân- ĐH Kinh tế TP Hồ Chí Minh)

Kinh tế kiến tạo nền tảng bứt phá trong giai đoạn mới

Kinh tế kiến tạo nền tảng bứt phá trong giai đoạn mới

Hạ tầng số, công nghệ số tạo xung lực mới cho tăng trưởng kinh tế

Hạ tầng số, công nghệ số tạo xung lực mới cho tăng trưởng kinh tế

TS Lê Quốc Phương: Đích đến là tăng trưởng xuất, nhập khẩu bền vững

TS Lê Quốc Phương: Đích đến là tăng trưởng xuất, nhập khẩu bền vững

Đọc nhiều
HỎI ĐÁP THÔNG MINH

CẢM NHẬN CỦA BẠN VỀ BÀI VIẾT NÀY

  • Rất hay
  • Thích
  • Giải trí
  • Cần cải thiện

BÌNH LUẬN (0)

Đừng bỏ lỡ
Tin mới
VIDEO
Tin Tài Trợ