Doanh nghiệp Nhật kỳ vọng làm ăn có lãi tại Việt Nam

Chia sẻ

KTĐT - Đa số các doanh nghiệp Nhật Bản có vốn đầu tư tại Việt Nam và các nước Châu Á đều có quan điểm lạc quan về triển vọng lợi nhuận kinh doanh năm 2010.

KTĐT - Đa số các doanh nghiệp Nhật Bản có vốn đầu tư tại Việt Nam và các nước Châu Á đều có quan điểm lạc quan về triển vọng lợi nhuận kinh doanh năm 2010.          

Đó là kết quả từ cuộc điều tra mới nhất về hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Nhật Bản tại 17 quốc gia và vùng lãnh thổ ở Châu Á và Châu Đại Dương, do Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO) vừa công bố.

  
Có 56,4% các doanh nghiệp được hỏi kỳ vọng đạt lợi nhuận kinh doanh năm 2009, tuy giảm 8,9% so với cuộc điều tra năm trước nhưng đây vẫn là một tỷ lệ cao trong bối cảnh kinh tế năm qua có quá nhiều thách thức. Trong khi đó, tỷ lệ các doanh nghiệp dự đoán sẽ bị thua lỗ trong năm 2009 là 23,7%.

  
Kết quả điều tra cũng cho thấy những tỷ lệ này thấp hơn ở các nước đang phát triển như Ấn Độ và Việt Nam. Lý do là phần lớn các công ty Nhật Bản ở những nước này đều là mới thành lập (sau năm 2005), và hiệu quả hoạt động của những công ty này có xu hướng không ổn định và dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài như lạm phát và khủng hoảng tài chính toàn cầu.

  
Về triển vọng lợi nhuận kinh doanh năm 2010, các doanh nghiệp tại các quốc gia và vùng lãnh thổ được điều tra đều có quan điểm lạc quan hơn so với dự đoán. Các doanh nghiệp đều hy vọng rằng “doanh số bán hàng sẽ tăng lên ở thị trường nội địa” (68%), đặc biệt là tại Ấn Độ, Hàn Quốc, và Thái Lan thì tỷ lệ là 80%. Trong khi đó, kỳ vọng về “doanh số bán hàng tăng lên do mở rộng thị trường xuất khẩu” là câu trả lời phổ biến tại các nước Philipin, Singapore, Malaysia và Việt Nam.

  
Cũng theo kết quả điều tra, 86,9% các doanh nghiệp được hỏi đều thấy bị ảnh hưởng bởi cuộc suy thoái toàn cầu, và các doanh nghiệp Nhật Bản tại Hồng Kông, Singapore và Thái Lan đứng đầu danh sách này. Tuy nhiên, có một vài ngành tương đối “miễn dịch” với cuộc suy thoái như: ngành dược phẩm, thiết bị y tế, thực phẩm, sản phẩm nông nghiệp và hải sản chế biến.

  
Liên quan đến các biện pháp đối phó trong năm vừa qua, đa số các doanh nghiệp chọn phương án “điều chỉnh lao động” (45,6%); “giảm chi phí bằng cách tăng hiệu quả sản xuất và bán hàng” (45,2%) và “hủy hoặc hoãn đầu tư mới hoặc tăng đầu tư” (41,9%); chỉ có 4,9% trả lời là “đóng cửa hoặc rút khỏi hoạt động”.

  
Kết quả điều tra cũng cho thấy, trong khi gần 40% các doanh nghiệp trả lời là đã cắt giảm lao động địa phương (cả lao động thường xuyên và lao động tạm thời) từ tháng 9/2008, thì tỷ lệ các doanh nghiệp có kế hoạch tăng nhân viên vào năm 2010 cao hơn tỷ lệ các doanh nghiệp có kế hoạch giảm nhân viên. Tương tự như vậy, tỷ lệ các doanh nghiệp có kế hoạch giảm nhân viên người Nhật tại cơ sở hoạt động của mình cao hơn tỷ lệ các doanh nghiệp có kế hoạch tăng sử dụng nhân viên người Nhật. Điều này cho thấy nỗ lực của các doanh nghiệp Nhật Bản trong việc giảm chi phí lao động và nội địa hóa việc quản lý.

 

Cuộc điều tra được thực hiện giữa tháng 9 đến tháng 10/2009 và đã nhận được phản hồi từ 2.990 công ty thuộc17 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có khu vực ASEAN (Indonesia, Malaysia, Myanma, Philipin, Singapore, Thái Lan và Việt Nam), Đông Bắc Á (Trung Quốc đại lục, Hồng Kông, Hàn Quốc và Đài Loan), Tây Nam Á (Bănglađét, Ấn Độ, Pa-kit-tan và Sri-Lanka) và Châu Đại Dương (Ốt-trây-lia, Niu Di-lân).