DÒNG SỰ KIỆN. * ĐẠI DỊCH COVID-19 * GIA ĐÌNH THỜI COVID * CÙNG KINH TẾ & ĐÔ THỊ CHUNG TAY PHÒNG, CHỐNG DỊCH COVID-19

Nào ta cùng… kéo co

13-02-2016 07:52
Kinhtedothi - Năm 2015, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã ghi danh trò chơi kéo co vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Ðó là trò chơi kéo co phổ biến ở nhiều vùng miền trong cả nước, đặc biệt là đồng bằng Bắc Bộ.
1.Quyết định này được UNESCO đưa ra vào hồi 12 giờ 15 phút (giờ Namibia), tức 17 giờ 15 phút (giờ Việt Nam) ngày 2/12/2015 tại Phiên họp Ủy ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 10 của UNESCO diễn ra tại thành phố Windhoek - Cộng hòa Namibia. Theo đó, nghi lễ và trò chơi kéo co của Việt Nam, Campuchia, Hàn Quốc và Philippines đã chính thức được ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch cho biết, đây là hồ sơ di sản đa quốc gia đầu tiên mà Việt Nam tham gia đệ trình và được UNESCO ghi danh. "Ðiều này thể hiện sự quan tâm và đánh giá cao của UNESCO đối với cách tiếp cận mới của các quốc gia về di sản có chung đặc trưng cũng như sự chung tay bảo vệ di sản của các quốc gia thành viên đệ trình hồ sơ đa quốc gia", đại diện Cục Di sản Văn hóa (Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch) cho biết.

Cũng theo thông tin từ Cục Di sản Văn hóa, nghi lễ và trò chơi kéo co được thực hành rộng rãi trong văn hóa trồng lúa ở nhiều nước Ðông Á, với ý nghĩa cầu cho mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu hay những tiên đoán liên quan đến sự thành công hay thất bại của nỗ lực trồng cấy.
Ở mỗi quốc gia thành viên, nghi lễ và trò chơi kéo co được tổ chức ở những cấp độ, phạm vi khác nhau. Tại Việt Nam, nghi lễ và trò chơi kéo co tập trung ở vùng trung du, Ðồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ với trung tâm là các tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh và Hà Nội. Bên cạnh đó, di sản còn được thực hành thường xuyên bởi các tộc người ở miền núi phía Bắc như người Tày, người Thái và người Giáy (Lào Cai) - vốn là những cư dân trồng lúa sớm trong lịch sử.

Ở Campuchia, kéo co phổ biến trong các cộng đồng trồng lúa nằm xung quanh Hồ Lớn của Biển Hồ Tonle Sap và khu vực phía Bắc Angkor. Còn tại Philippines, kéo co được thực hành tại các địa phương Hapao Proper, Nungulunan và Baang (thuộc thị trấn Hungduan). Những nơi này nổi bật với những ruộng bậc thang rộng ngút ngàn, được ngăn bằng các vỉa đá. Riêng ở Hàn Quốc, hầu hết các thị trấn ở các vùng nông nghiệp đều tổ chức nghi lễ và trò chơi kéo co (đặc biệt phổ biến ở các vùng đồng bằng rộng và bằng phẳng).
2.Góp vào thành công trên có sự đóng góp của trò chơi kéo co ngồi của cộng đồng dân cư phường Thạch Bàn, quận Long Biên (Hà Nội.

Theo các cụ cao tuổi trong vùng kể lại: Xưa kia, có năm làng Ngọc Trì hạn hán, 12 cái giếng thì cạn hết 11, chỉ còn giếng ở xóm Ðìa là còn nước. Trai xóm Ðường và xóm Chợ xuống giếng lấy nước về dùng. Trai xóm Ðìa sợ hết nước cho nên đã ngăn không cho lấy. Bên giằng, bên giữ, lại sợ đổ mất nước nên ngồi xuống đất mà ôm lấy cả thùng nước. Hạn hán qua đi, nhớ lại tích ấy, các cụ nghĩ ra trò kéo co ngồi để trình diễn trong hội làng với mong muốn cầu cho mưa thuận, gió hòa. Ðầu tiên là mạn Ðường tổ chức kéo co. Trước khi kéo, thanh niên mạn Ðường mang hương hoa, lễ vật lên đền Trấn Vũ lễ Thánh, và năm đó, mạn Ðường thắng. Mạn Ðường thắng thì cũng năm đó làng làm ăn rất tốt, phát đạt lắm, mùa màng bội thu, người dân khỏe mạnh... Ngày xưa, quang gánh nước làm bằng dây cây song, cho nên tục lệ dùng cây song để làm dây kéo co.

Hội làng trước kia được tổ chức tại đình từ ngày 9 đến 14/2 âm lịch. Hội chính được tổ chức vào ngày 12/2, ngày Lễ Ðản sinh Thánh Linh Lang - Thành hoàng làng. Trong chiến tranh và cả sau năm 1975, Kéo co ngồi không được thực hành. Vào những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, đình và nghè của làng bị sụp đổ, dân làng chuyển ngai và bài vị của Thánh Linh Lang và các vị Thành hoàng về thờ chung ở đền Trấn Vũ. Từ năm 1989, Kéo co ngồi được phục hồi và thực hành trong Hội đền Trấn Vũ, diễn ra ngày 3/3 Âm lịch, gắn với ngày Ðức thánh Trấn Vũ đản sinh.
Trước lễ hội, người dân làng Ngọc Trì đã chuẩn bị tuyển lựa người kéo co. Tiêu chuẩn đầu tiên để được lựa chọn là gia đình có năm đời sinh sống ở làng trở lên và có nền nếp, gia giáo chuẩn mực. Ngọc Trì có ba mạn: mạn Ðường, mạn Ðìa, mạn Chợ. Mỗi mạn được cử một đội kéo co đại diện. Ðến ngày hội làng, các mạn dâng lễ vật lên Thánh tại đền Trấn Vũ rồi mới bước vào thi đấu. Khi kéo co chia làm 2 mạn: mạn Chợ và mạn Ðường. Trai kéo co mỗi mạn phải đủ 24 người và một Tổng cờ. Trai kéo co đóng khố điều, chít khăn điều. Tổng cờ mặc áo đỏ, đội khăn đỏ. Sau khi lễ Thánh xong, hai phe bắt đầu tiến hành kéo co.

Trước khi kéo, dây song được nêm chặt ở lỗ cột. Trai kéo co ngồi chân co chân duỗi. Trong đội hình từng phe, lần lượt ngồi xen kẽ, người quay mặt bên này, người bên kia của song. Mỗi người một tay duỗi thẳng, tay kia co trước ngực, song được kẹp chặt dưới nách của tay co. Sau khi có hiệu lệnh bằng ba hồi trống khẩu, nêm được tháo ra, hai Tổng phất cờ hô “í a, kéo”. Tổng cờ chạy lên chạy xuống, quệt lá cờ lệnh vào mặt, vào đầu các trai kéo của phe mình vừa để làm hiệu khi nào kéo, khi nào nghỉ, vừa để cổ vũ, tiếp thêm sức mạnh cho đội kéo. Ðiểm độc đáo là mặc dù mỗi mạn có một đội kéo co, song dù là người dân ở mạn nào cũng đều mong đội mạn Ðường thắng. Vì họ quan niệm mạn Ðường (cộng đồng cốt lõi về trồng trọt) mà thắng nghĩa là năm đó dân làng làm ăn rất tốt, mùa màng bội thu, người dân khỏe mạnh... Riêng mạn Ðìa không được phép thắng bởi người ta cho rằng đó là điềm không may.

Xưa kia nghi lễ kéo co thường được tổ chức tại ngôi đình thờ thần Linh Lang nhưng do đình sụp đổ nên nhân dân chuyển ngai, bài vị Linh Lang về thờ chung trong đền Trấn Vũ và trò kéo co ngồi cũng được đưa về thực hiện trong lễ hội của đền.
Kéo co ngồi được coi là trò diễn nghi lễ trong hội làng, mang ý nghĩa cầu mong mưa thuận gió hòa, nước nôi đầy đủ cho người dân sản xuất nông nghiệp.

Như đã nói ở trên, trò chơi kéo co khá phổ biến ở nhiều tỉnh, thành của Việt Nam. Không chỉ có dân tộc Kinh, mà ở nhiều dân tộc ít người khác như dân tộc Thái, Tày, Nùng, Giáy, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên… cũng có tục trò kéo co dân gian với nhiều hình thức đa dạng. Riêng ở miền núi phía Bắc trò chơi này trở thành nét sinh hoạt hoạt cộng đồng, thu hút sự tham gia của nhiều tầng lớp người dân. Ðáng chú ý, người Tày, người Thái và người Giáy (Lào Cai) là những cộng đồng thường tiến hành tổ chức trò chơi kéo co rất sôi động, thu hút du khách trong và ngoài nước.

Vì là trò chơi dân gian, nên tục kéo co ở mỗi cộng đồng lại có sự “cải biên” để phù hợp với không gian, thời điểm… Tuy nhiên, trò kéo co đều có điểm chung là thể hiện được sức mạnh cũng như tinh thần đoàn kết, gắn bó của tập thể, giúp tăng cường sức khỏe mà lại không bạo lực, không quan trọng thắng thua mà đặt niềm vui lên hàng đầu…
Lễ hội kéo co Bắc Ninh
Lễ hội kéo co Bắc Ninh diễn ra ở làng Hữu Chấp, xã Hòa Long, TP. Bắc Ninh. Ðây là một trong những lễ hội truyền thống lâu đời nhất của vùng Kinh Bắc.

Hội kéo co được tổ chức vào ngày mùng 4 Tết hàng năm, trong đó buổi sáng là hoạt động tế lễ, buổi chiều thi kéo co. Ðể tổ chức lễ hội này người dân làng Hữu Chấp phải chuẩn bị từ hơn một tháng trước đó. Những người được chọn phải là những người đàn ông mạnh khỏe, có tuổi đời ngoài 40, gia đình không có tang, sinh được đủ cả trai lẫn gái. Chiều mùng 4 Tết, sau khi hoàn thành việc tế lễ, 70 người kéo chia làm hai đội bên Ðông và bên Tây, mỗi bên 35 người, bốn người to khỏe nhất sẽ được chọn đứng đầu đòn gánh, tất cả đều cởi trần, đóng khố, thắt lưng nhiễu điều, đầu chít khăn lụa những người còn lại bám vào thân tre chờ hiệu lệnh của các ông Hóa mà kéo.
TAG: