DÒNG SỰ KIỆN. * KỲ HỌP THỨ 2, QUỐC HỘI KHÓA XV * ĐẠI DỊCH COVID-19 * GIA ĐÌNH THỜI COVID * CÙNG KINH TẾ & ĐÔ THỊ CHUNG TAY PHÒNG, CHỐNG DỊCH COVID-19
Tọa đàm, tư vấn pháp luật trực tuyến “Quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng và tiêu cực”
Kinh Tế Đô Thị
14-10-2021 14:22
Kinhtedothi - Chiều 14/10, tại Hà Nội, báo Kinh tế&Đô thị đã tổ chức buổi giao lưu tọa đàm trực tuyến “Quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng và tiêu cực”.
Thời gian qua, công tác phòng, chống tham nhũng trên phạm vi cả nước nói chung và Hà Nội nói riêng đạt được những kết quả khá tích cực, để lại dấu ấn tốt, lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống xã hội. Công tác PCTN, lãng phí, tiêu cực đã trở thành phong trào, xu thế, được Nhân dân đồng tình, đánh giá cao. Trong đó, việc đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền các quy định của pháp luật về PCTN phòng chống tham nhũng đóng một vai trò rất quan trọng.
 Phó Tổng Biên tập báo Kinh tế&Đô thị Nguyễn Anh Đức phát biểu tại buổi tọa đàm.
Trong đó, Luật PCTN năm 2018 và các văn bản hướng dẫn thi hành (trọng tâm là các quy định mới về: hành vi tham nhũng, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị và doannh nghiệp trong phòng chống tham nhũng; các biện pháp phòng ngừa tham nhũng; kiểm soát tài sản, thu nhập; xử lý tham nhũng và hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng…) là các vấn đề được nhiều người quan tâm.
Để tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật sâu rộng hơn về PCTN và các quy định pháp luật liên quan đến vấn đề này, hôm nay, báo Kinh tế & Đô thị tổ chức tọa đàm – tư vấn pháp luật trực tuyến với độc giả báo Kinh tế & Đô thị tại địa chỉ https://kinhtedothi.vn với chủ đề: “Quy định của pháp luật luật về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực”
Tham dự buổi tọa đàm – tư vấn pháp luật trực tuyến hôm nay có:      
Luật sư Nguyễn Hồng Tuyến - Chủ tịch Hội Luật gia TP Hà Nội
Luật sư Nguyễn Quốc Việt
Luật gia Phạm Thu Hương

Phát biểu tại buổi tọa đàm, Phó Tổng Biên tập báo Kinh tế&Đô thị Nguyễn Anh Đức trân trọng gửi lời cảm ơn đến các vị khách mời và Hội Luật gia TP Hà Nội trong suốt những năm qua đã đồng hành, hỗ trợ báo Kinh tế&Đô thị trong công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, giáo dục pháp luật.

“Mong rằng Hội Luật gia TP Hà Nội sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ để mở rộng thêm phạm vi tuyên truyền các văn bản luật, nhất là văn bản luật mới gắn liền với đời sống dân sinh để bạn đọc có cơ hội tiếp cận, hiểu sâu hơn về các thông tin văn bản, quy định của TP và Trung ương. Rất mong buổi giao lưu trực tuyến hôm nay, các vị khách sẽ giải đáp ứng nhu cầu tìm hiểu về pháp luật phòng chống tham nhũng của bạn đọc cả nước và Hà Nội.” – Ông Nguyễn Anh Đức cho biết.

KHÁCH MỜI THAM DỰ
  • Chủ tịch Hội Luật gia TP Hà Nội

    Luật sư Nguyễn Hồng Tuyến

  • Luật sư

    Ông Nguyễn Quốc Việt

  • Luật gia

    Bà Phạm Thu Hương

Nội dung giao lưu trực tuyến
Bạn đọc Đặng Như Quỳnh ( Quảng Bình) hỏi:
Khi phát hiện hành vi tham nhũng, có những hình thức nào để thông tin cho cơ quan, người có thẩm quyền?
Ông Nguyễn Quốc Việt trả lời:
Theo Điều 65 về phản ánh, tố cáo và xử lý phản ánh, giải quyết tố cáo về hành vi tham nhũng được quy định như sau:
1. Cá nhân, tổ chức có quyền phản ánh về hành vi tham nhũng, cá nhân có quyền tố cáo về hành vi tham nhũng theo quy định của pháp luật.
2. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền khi nhận được phản ánh, tố cáo về hành vi tham nhũng phải xem xét, xử lý kịp thời và áp dụng các biện pháp bảo vệ người phản ánh, tố cáo.
3. Việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo về hành vi tham nhũng được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo.
4. Việc tiếp nhận, xử lý phản ánh về hành vi tham nhũng được thực hiện theo quy định của pháp luật về tiếp công dân.
 Như vậy, việc tố cáo hành vi tham nhũng được thực hiện theo quy định của Luật Tố cáo. Khi phát hiện hành vi tham nhũng, cá nhân, tổ chức có quyền tố cáo bằng đơn hoặc được trình bày trực tiếp tại cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
Bạn đọc Nguyễn Thị Hằng (Quận Hà Đông) hỏi:
Thời gian qua, có một số trường hợp cán bộ thanh tra, những người nắm giữ “cán cân công lý” nhận hối lộ bị phanh phui. Theo quy định pháp luật, các trường hợp này sẽ bị xử lý thế nào về hành vi nhận hối lộ?
Luật sư Nguyễn Hồng Tuyến trả lời:
Luật PCTN 2018 quy định 12 hành vi tham nhũng nhưng Luật Hình sự chỉ hình sự hóa 7 hành vi, trong đó có nhận hối lộ. Người nào trực tiếp nhận hoặc qua trung gian nhận hối lộ, đều phạm vào tội nhận hối lộ. Tội nhận hối lộ có 5 khung hình phạt: 5 - 7 năm, 7 - 15 năm, 15 - 20 năm, 20 năm - tử hình, cấm đảm nhiệm chức vụ từ 3 - 5 năm hoặc tịch thu tài sản…
Bạn đọc Hoàng Huy (Tam Trinh, Hà Nội) hỏi:

Người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng có được bảo vệ, khen thưởng hay không?


Bà Phạm Thu Hương trả lời:
Theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng, người phản ánh, báo cáo về hành vi tham nhũng được áp dụng các biện pháp bảo vệ như bảo vệ người tố cáo như:
1. Bảo vệ người tố cáo là việc bảo vệ bí mật thông tin của người tố cáo; bảo vệ vị trí công tác, việc làm, tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người tố cáo, vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người tố cáo (gọi chung là người được bảo vệ).
2. Người tố cáo được bảo vệ bí mật thông tin cá nhân, trừ trường hợp người tố cáo tự tiết lộ.
3. Khi có căn cứ về việc vị trí công tác, việc làm, tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người quy định tại khoản 1 Điều này đang bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại ngay tức khắc hay họ bị trù dập, phân biệt đối xử do việc tố cáo, người giải quyết tố cáo, cơ quan khác có thẩm quyền tự quyết định hoặc theo đề nghị của người tố cáo quyết định việc áp dụng biện pháp bảo vệ cần thiết.
 Đồng thời với việc được bảo vệ thì tại Điều 68 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định người có thành tích trong việc phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng thì được khen thưởng theo quy định.
 Năm 2011, Bộ Nội vụ và Thanh tra Chính phủ ban hành Thông tư liên tịch số 03/2011/TTLT-BNV-TTCP ngày 06/5/2011 quy định khen thưởng cá nhân có thành tích xuất sắc trong tố cáo, phát hiện hành vi tham nhũng. Theo Thông tư liên tịch thì có 4 hình thức khen thưởng và quy định điều kiện, tiêu chuẩn được khen thưởng tương ứng với 4 hình thức:
1. Huân chương dũng cảm:
2. Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ
3. Bằng khen của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
4. Giấy khen của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương và các điều kiện khen thưởng tương đương.
Các cá nhân có thành tích xuất sắc trong tố cáo, phát hiện hành vi tham nhũng còn được động viên khuyến khích lợi ích vật chất bằng tiền thưởng từ quỹ khen thưởng về phòng, chống tham nhũng với các mức sau: Huân chương dũng cảm được thưởng 30 lần mức lương tối thiểu chung; Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ được thưởng 20 lần mức lương tối thiểu chung; Bằng khen của cấp Bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể Trung ương được thưởng 10 lần mức lương tối thiểu chung; Giấy khen được thưởng 3 lần mức lương tối thiểu chung.
Bạn đọc Dương Phương (Hà Giang) hỏi:
Bà T là thủ trưởng của một đơn vị thuộc cơ quan nhà nước. Vừa qua, bà T bố chí cho em ruột của mình giữ chức vụ trưởng phòng tổ chức cán bộ của đơn vị mình. Việc bố trí, bổ nhiệm cán bộ của bà T như vậy có vi phạm Pháp luật phòng, chống tham nhũng không? Nếu vi phạm, bà T sẽ bị xử lý như thế nào?
Ông Nguyễn Quốc Việt trả lời:
Theo quy định tại điều 20 Luật phòng chống tham nhũng 2018: Quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn
1. Người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ và trong quan hệ xã hội phải thực hiện quy tắc ứng xử, bao gồm các chuẩn mực xử sự là những việc phải làm hoặc không được làm phù hợp với pháp luật và đặc thù nghề nghiệp nhằm bảo đảm liêm chính, trách nhiệm, đạo đức công vụ.
2. Người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị không được làm những việc sau đây:
a) Nhũng nhiễu trong giải quyết công việc;
b) Thành lập, tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, trừ trường hợp luật có quy định khác;
c) Tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác ở trong nước và nước ngoài về công việc có liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật công tác, công việc thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc tham gia giải quyết;
d) Thành lập, giữ chức danh, chức vụ quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã thuộc lĩnh vực mà trước đây mình có trách nhiệm quản lý trong thời hạn nhất định theo quy định của Chính phủ;
đ) Sử dụng trái phép thông tin của cơ quan, tổ chức, đơn vị;
e) Những việc khác mà người có chức vụ, quyền hạn không được làm theo quy định của Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức, Luật Doanh nghiệp và luật khác có liên quan.
3. Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị không được bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán, làm thủ quỹ, thủ kho trong cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch vụ, ký kết hợp đồng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị đó.
4. Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước không được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước hoặc để vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con kinh doanh trong phạm vi ngành, nghề do người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước.
5. Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng và người giữ chức danh, chức vụ quản lý khác trong doanh nghiệp nhà nước không được ký kết hợp đồng với doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột; cho phép doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột tham dự các gói thầu của doanh nghiệp mình; bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán, làm thủ quỹ, thủ kho trong doanh nghiệp hoặc giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch vụ, ký kết hợp đồng cho doanh nghiệp.
Từ quy định của pháp luật nêu trên, bà T đã vi phạm khoản 3, điều 20 luật phòng chống tham nhũng , hành vi vi phạm của bà T được xử lý tại điều 83, nghị định số 59/NĐ-CP của  chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật phòng chống tham nhũng:
- Cảnh cáo đối với người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị lần đầu có hành vi bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán, làm thủ quỹ, thủ kho trong cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch vụ, ký kết hợp đồng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị đó.
- Cách chức đối với người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có hành vi bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán, làm thủ quỹ, thủ kho trong Cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch vụ, ký kết hợp đồng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị đó mà đã bị xử lý bằng hình thức cảnh cáo; người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước hoặc để vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con kinh doanh trong phạm vi ngành, nghề do người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước.
Bạn đọc Hoàng Thu Huyền (Hòa Bình) hỏi:
Việc xác minh tài sản, thu nhập đối với đối tượng phải kê khai theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng được tiến hành dựa trên các căn cứ nào? Nếu kết quả xác minh tài sản, thu nhập khảng định đối tượng kê khai tài sản, thu nhập không trung thực, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực, họ sẽ bị xử lý như thế nào?
Bà Phạm Thu Hương trả lời:
Căn cứ xác minh tài sản, thu nhập đối với đối tượng phải kê khai theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng được quy định tại Điều 41 như sau:
1. Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập xác minh tài sản, thu nhập khi có một trong các căn cứ sau đây:
a) Có dấu hiệu rõ ràng về việc kê khai tài sản, thu nhập không trung thực;
b) Có biến động tăng về tài sản, thu nhập từ 300.000.000 đồng trở lên so với tài sản, thu nhập đã kê khai lần liền trước đó mà người có nghĩa vụ kê khai giải trình không hợp lý về nguồn gốc;
c) Có tố cáo về việc kê khai tài sản, thu nhập không trung thực và đủ điều kiện thụ lý theo quy định của Luật Tố cáo;
d) Thuộc trường hợp xác minh theo kế hoạch xác minh tài sản, thu nhập hằng năm đối với người có nghĩa vụ kê khai được lựa chọn ngẫu nhiên;
đ) Có yêu cầu hoặc kiến nghị của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền theo quy định tại Điều 42 của Luật này.
2. Chính phủ quy định chi tiết tiêu chí lựa chọn người có nghĩa vụ kê khai được xác minh và việc xây dựng, phê duyệt kế hoạch xác minh tài sản, thu nhập hằng năm của Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập quy định tại điểm d khoản 1 Điều này.
 Toàn cảnh buổi tọa đàm, tư vấn pháp luật trực tuyến ''Quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng và tiêu cực''. Ảnh: Phạm Hùng.
Điều 51. Xử lý hành vi kê khai tài sản, thu nhập không trung thực, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực
1. Người ứng cử đại biểu Quốc hội, người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân mà kê khai tài sản, thu nhập không trung thực, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực thì bị xóa tên khỏi danh sách những người ứng cử.
2. Người được dự kiến bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, phê chuẩn, cử giữ chức vụ mà kê khai tài sản, thu nhập không trung thực, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực thì không được bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, phê chuẩn, cử vào chức vụ đã dự kiến.
3. Người có nghĩa vụ kê khai không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà kê khai tài sản, thu nhập không trung thực, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, bị xử lý kỷ luật bằng một trong các hình thức cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc hoặc bãi nhiệm; nếu được quy hoạch vào các chức danh lãnh đạo, quản lý thì còn bị đưa ra khỏi danh sách quy hoạch; trường hợp xin thôi làm nhiệm vụ, từ chức, miễn nhiệm thì có thể xem xét không kỷ luật.
4. Quyết định kỷ luật được công khai tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người bị xử lý kỷ luật làm việc.
Bạn đọc Nguyễn Đức Anh (Vĩnh Phúc) hỏi:
Tham nhũng “vặt” thông thường chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Vậy xin hỏi Luật Phòng chống tham nhũng 2018 quy định chế tài thế nào để có thể xử lý nghiêm đối tượng có hành vi vi phạm?
Bà Phạm Thu Hương trả lời:
Theo Điều 92 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định xử lý người có hành vi tham nhũng như sau:
1. Người có hành vi tham nhũng giữ bất kì chức vụ, vị trí công tác nào đều phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật, kể cả người đã nghỉ hưu, thôi việc, chuyển công tác.
2. Người có hành vi tham nhũng quy định tại Điều 2 của Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, phải bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
3. Trường hợp người có hành vi tham nhũng bị xử lý kỷ luật là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thì bị xem xét tăng hình thức kỷ luật.
4. Người có hành vi tham nhũng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, tích cực hợp tác với cơ quan có thẩm quyền, góp phần hạn chế thiệt hại, tự giác nộp lại tài sản tham nhũng, khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng thì được xem xét giảm hình thức kỷ luật, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hoặc miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
5. Người bị kết án về tội phạm tham nhũng là cán bộ, công chức, viên chức mà bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên bị buộc thôi việc đối với đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND thì đương nhiên mất quyền đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND.
Bạn đọc Đặng Thanh Nga (Hoàng Ngọc Phách, Hà Nội) hỏi:
Khi phát hiện cán bộ Đội quản lý trật tự xây dựng quận có hành vi nhận tiền hối lộ của một chủ hộ đang xây dựng nhà ở trên địa bàn để được làm ngơ xây vượt giấy phép thêm 1 tầng, một số công dân có ý định tố cáo hành vi của cán bộ này, tuy nhiên, họ lại sợ bị trù dập. Xin hỏi, Luật Phòng, chống tham nhũng quy định như thế nào về việc phản ánh, tố cáo về hành vi tham nhũng? 
Ông Nguyễn Quốc Việt trả lời:
Điều 65 Luật phòng chống tham nhũng 2018 quy định:  Phản ánh, tố cáo và xử lý phản ánh, giải quyết tố cáo về hành vi tham nhũng
- Cá nhân, tổ chức có quyền phản ánh về hành vi tham nhũng, cá nhân có quyền tố cáo về hành vi tham nhũng theo quy định của pháp luật.
-. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền khi nhận được phản ánh, tố cáo về hành vi tham nhũng phải xem xét, xử lý kịp thời và áp dụng các biện pháp bảo vệ người phản ánh, tố cáo.
- Việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo về hành vi tham nhũng được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo.
- Việc tiếp nhận, xử lý phản ánh về hành vi tham nhũng được thực hiện theo quy định của pháp luật về tiếp công dân.
Luật phòng chống tham nhũng còn quy định về : Báo cáo và xử lý báo cáo về hành vi tham nhũng(điều 66)
- Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang khi phát hiện hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi mình công tác thì phải báo cáo ngay với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị đó; trường hợp người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan đến hành vi tham nhũng thì phải báo cáo với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý cán bộ.
 Luật sư Nguyễn Quốc Việt trao đổi tại buổi tọa đàm. Ảnh: Phạm Hùng
- Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo về hành vi tham nhũng, người được báo cáo phải xử lý vụ việc theo thẩm quyền hoặc chuyển cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét, xử lý và thông báo cho người báo cáo biết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày; trường hợp cần thiết thì người được báo cáo quyết định hoặc đề nghị người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn, khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng và bảo vệ người báo cáo.
 Như vậy, Luật phòng chống tham nhũng 2018 đã mở rộng các hình thức tiếp nhận thông tin về tham nhũng, bao gồm: phản ánh,tố cáo, báo cáo. Qua đó, giúp cơ quan có thẩm quyền trong việc tiếp nhận , thu thập các thông tin về tham nhũng nhằm phát hiện và xử lý nhanh chóng, kịp thời.

 
Bạn đọc Nguyễn Thu Hồng (Phú Thọ) hỏi:
Trong luật Phòng chống tham nhũng mới đây, công dân có quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ gì với việc phòng, chống tham nhũng?
Luật sư Nguyễn Hồng Tuyến trả lời:
Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, tại Điều 5 quy định quyền và nghĩa vụ của công dân trong phòng, chống tham nhũng như sau:
 1. Công dân có quyền phát hiện, phản ánh, tố cáo, tố giác, báo tin về hành vi tham nhũng và được bảo vệ, khen thưởng theo quy định của pháp luật; có quyền kiến nghị với cơ quan nhà nước hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng và giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng.
2. Công dân có nghĩa vụ hợp tác, giúp đỡ cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong phòng, chống tham nhũng.
Bạn đọc Đặng Thùy Linh (Hoàng Hoa Thám - Hà Nội) hỏi:
Người đứng đầu cơ quan, đơn vị có trách nhiệm như thế nào trong phòng, chống tham nhũng ở cơ quan, đơn vị mình?
Bà Phạm Thu Hương trả lời:
Điều 70 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phòng, chống tham nhũng
1. Chỉ đạo việc thực hiện các nội dung quy định tại khoản 1 Điều 4 của Luật này.
(Khoản 1 Điều 4:
1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm sau đây:
a) Thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng; kịp thời phát hiện, xử lý theo thẩm quyền và kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị mình; thực hiện quy định khác của pháp luật về phòng, chống tham nhũng;
b) Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người phản ánh, báo cáo, tố cáo, tố giác, báo tin, cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng;
c) Tiếp nhận, xử lý kịp thời phản ánh, báo cáo, tố cáo, tố giác, tin báo về hành vi tham nhũng;
d) Kịp thời cung cấp thông tin và thực hiện yêu cầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền trong quá trình phát hiện, xử lý tham nhũng.)
2. Gương mẫu, liêm khiết; chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp, quy tắc đạo đức kinh doanh.
3. Chịu trách nhiệm khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách theo quy định tại Điều 72 và Điều 73 của Luật này.
Điều 71. Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc áp dụng biện pháp tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển sang vị trí công tác khác
1. Khi có căn cứ cho rằng người có chức vụ, quyền hạn có hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến tham nhũng, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, đề nghị người có thẩm quyền quản lý cán bộ đối với người có chức vụ, quyền hạn tạm đình chỉ công tác hoặc tạm thời chuyển sang vị trí công tác khác đối với người có hành vi vi phạm để xác minh, làm rõ hành vi tham nhũng nếu xét thấy người đó tiếp tục làm việc có thể gây khó khăn cho việc xem xét, xử lý.
2. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc người có thẩm quyền quản lý cán bộ đối với người có chức vụ, quyền hạn phải xem xét tạm đình chỉ công tác hoặc tạm thời chuyển sang vị trí công tác khác đối với người có chức vụ, quyền hạn khi nhận được yêu cầu của Cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước, Cơ quan điều tra, VKSND, TAND nếu trong quá trình thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử có căn cứ cho rằng người đó có hành vi tham nhũng.
3. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc người có thẩm quyền quản lý cán bộ đối với người có chức vụ, quyền hạn phải hủy bỏ ngay quyết định và thông báo công khai về việc hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ công tác hoặc tạm thời chuyển sang vị trí công tác khác, khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người có chức vụ, quyền hạn sau khi cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền kết luận người đó không có hành vi tham nhũng.
4. Chính phủ quy định chi tiết về trình tự, thủ tục, thời hạn tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển sang vị trí công tác khác; việc hưởng lương, phụ cấp, quyền, lợi ích hợp pháp khác và bồi thường, khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người có chức vụ, quyền hạn sau khi cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền kết luận người đó không có hành vi tham nhũng.
Điều 72. Trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách
1. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm trực tiếp khi để xảy ra tham nhũng của người do mình trực tiếp quản lý, giao nhiệm vụ.
2. Cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm trực tiếp khi để xảy ra tham nhũng trong lĩnh vực công tác và trong đơn vị do mình được giao trực tiếp phụ trách; người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm liên đới.
Điều 73. Xử lý trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách
1. Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị chịu trách nhiệm trực tiếp khi để xảy ra tham nhũng quy định tại Điều 72 của Luật này thì bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
2. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị chịu trách nhiệm liên đới khi để xảy ra tham nhũng quy định tại khoản 2 Điều 72 của Luật này thì bị xử lý kỷ luật.
3. Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị được xem xét loại trừ, miễn, giảm hoặc bị tăng trách nhiệm pháp lý trong các trường hợp sau đây:
a) Được xem xét loại trừ trách nhiệm trong trường hợp không thể biết hoặc đã áp dụng các biện pháp cần thiết để phòng ngừa, ngăn chặn hành vi tham nhũng;
b) Được xem xét miễn hoặc giảm trách nhiệm trong trường hợp đã áp dụng các biện pháp cần thiết để ngăn chặn, khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng hoặc đã chủ động, kịp thời phát hiện, báo cáo và xử lý tham nhũng theo quy định của pháp luật;
c) Được xem xét miễn hoặc giảm hình thức kỷ luật nếu chủ động xin từ chức trước khi cơ quan có thẩm quyền phát hiện, xử lý, trừ trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự;
d) Bị xem xét tăng trách nhiệm trong trường hợp phát hiện hành vi tham nhũng mà không áp dụng các biện pháp cần thiết để ngăn chặn, khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng hoặc không kịp thời báo cáo, xử lý tham nhũng theo quy định của pháp luật.
4. Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội để xảy ra tham nhũng trong tổ chức mình ngoài việc bị xử lý theo quy định của Điều này còn bị xử lý theo điều lệ, quy chế, quy định của tổ chức đó.
Bạn đọc Phạm Thanh Giang ( TP Hồ Chí Minh) hỏi:
Chị N là công chức thuộc bộ phận một cửa của một Sở. Thỉnh thoảng chị N được một số công dân đến yêu cầu giải quyết các thủ tục hành chính có ý muốn tặng quà nhưng chị N đều từ chối, duy có một lần gần đây, mặc dù chị N đã từ chối không nhận quà nhưng công dân vẫn để lại túi quà (bên trong có 10 triệu đồng) tại chỗ làm việc của chị N. Xin hỏi trường hợp này giải quyết như thế nào?
Ông Nguyễn Quốc Việt trả lời:
Hiện nay, nhận quà tặng được quy định tại Điều 22 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, theo đó: “Cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có chức vụ, quyền hạn không được trực tiếp hoặc gián tiếp nhận quà tặng dưới mọi hình thức của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình”. Đồng thời, tại Điều 25 Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2019 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng, đã quy định về việc nhận quà tặng cụ thể, theo đó: “Cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có chức vụ, quyền hạn không được trực tiếp hoặc gián tiếp nhận quà tặng dưới mọi hình thức của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình. Trường hợp không từ chối được thì cơ quan, tổ chức, đơn vị phải tổ chức quản lý, xử lý quà tặng theo quy định tại Điều 27 của Nghị định này”. Như vây, việc chị N không nhận quà biếu của công dân là đúng với quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Trong trường hợp công dân cố ý để lại quà và không thể trả lại cho công dân đã tặng, thì theo quy định của pháp luật, trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quà tặng, anh/chị phải báo cáo Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị mình hoặc Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp và nộp lại quà tặng để xử lý theo quy định tại Điều 27 của Nghị định 59/2019/NĐ-CP. Báo cáo bằng văn bản và có đầy đủ các nội dung: Họ, tên, chức vụ, cơ quan, địa chỉ của người tặng quà; loại và giá trị của quà tặng; thời gian, địa điểm và hoàn cảnh cụ thể khi nhận quà tặng; mối quan hệ với người tặng quà.
Việc xử lý quà tặng sẽ phụ thuộc vào quà tặng đó là gì, Điều 27 của Nghị định 59/2019/NĐ-CP liệt kê các cách xử lý đối với mỗi loại quà tặng như sau:
- Đối với quà tặng bằng tiền, giấy tờ có giá thì Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị tổ chức tiếp nhận, bảo quản và làm thủ tục nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.
- Đối với quà tặng bằng hiện vật, Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận, bảo quản và xử lý như sau:
+ Xác định giá trị của quà tặng trên cơ sở giá của quà tặng do cơ quan, đơn vị, cá nhân tặng quà cung cấp (nếu có) hoặc giá trị của quà tặng tương tự được bán trên thị trường. Trong trường hợp không xác định được giá trị của quà tặng bằng hiện vật thì có thể đề nghị cơ quan có chức năng xác định giá;
+ Quyết định bán quà tặng và tổ chức công khai bán quà tặng theo quy định của pháp luật;
+ Nộp vào ngân sách nhà nước số tiền thu được sau khi trừ đi chi phí liên quan đến việc xử lý quà tặng trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bán quà tặng.
+ Đối với quà tặng là dịch vụ thăm quan, du lịch, y tế, giáo dục - đào tạo, thực tập, bồi dưỡng trong nước hoặc ngoài nước, dịch vụ khác thì Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị phải thông báo đến cơ quan, tổ chức, đơn vị cung cấp dịch vụ về việc không sử dụng dịch vụ đó.
+ Đối với quà tặng là động vật, thực vật, thực phẩm tươi, sống và hiện vật khác khó bảo quản thì Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị căn cứ tình hình cụ thể và quy định của pháp luật về xử lý tang vật trong các vụ việc vi phạm hành chính để quyết định xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo Cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định xử lý.
Như vậy, chị cần xem món quà được tặng là gì, sau đó báo cáo với Thủ trưởng cơ quan mình để giải quyết theo quy định của Nghị định 59/2019/NĐ-CP theo đúng trình tự, thủ tục.
Bạn đọc Trần Mạnh Hùng ( Quảng Bình) hỏi:
Gần đây, trên các báo, đài phản ánh một số vụ án tham nhũng nghiêm trọng đã được đưa ra xét xử và người phạm tội phải nhận mức án phạt nghiêm khắc theo quy định của pháp luật. Vậy xin hỏi, tham nhũng là gì? Những hành vi nào là hành vi tham nhũng?
Bà Phạm Thu Hương trả lời:
Luật Phòng, chống tham nhũng số 36/2018/QH14 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 20/11/2018, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2019 gồm 10 chương, 96 điều. Luật này thay thế Luật Phòng, chống tham nhũng số 55/2005/QH11 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 01/2007/QH12 và Luật số 27/2012/QH13.
Tại khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng định nghĩa: Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi.
Theo định nghĩa trên đây, tham nhũng có 3 đặc trưng cơ bản sau:
1. Chủ thể tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn do bổ nhiệm, do bầu cử, do tuyển dụng, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó.
2. Chủ thể tham nhũng lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao
3. Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi.
 Luật gia Phạm Thu Hương trả lời câu hỏi của độc giả. Ảnh: Phạm Hùng
1. Chủ thể tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn do bổ nhiệm, do bầu cử, do tuyển dụng, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó, bao gồm:
a) Cán bộ, công chức, viên chức;
b) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, công nhân công an trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân;
c) Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp;
d) Người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức;
đ) Những người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ và có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó.
Trước đây, Luật PCTN 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012) chỉ quy định hành vi tham nhũng đối với chủ thể thuộc khu vực Nhà nước. Tuy nhiên, một điểm mới quan trọng của Luật PCTN 2018 quy định hành vi này có thể được thực hiện bởi cả chủ thể giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức thuộc khu vực ngoài Nhà nước.
2. Chủ thể tham nhũng lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao: Đây là đặc trưng thứ hai của tham nhũng. Chủ thể tham nhũng phải sử dụng “chức vụ, quyền hạn của mình” như một phương tiện để mang lại lợi ích cho mình, cho gia đình mình hoặc cho người khác. Một người có chức vụ, quyền hạn thực hiện hành vi vi phạm pháp luật vì động cơ vụ lợi nhưng hành vi đó không lợi dụng chức vụ, quyền hạn thì không coi là tham nhũng.
3. Mục đích của hành vi tham nhũng phải là vụ lợi: Vụ lợi là việc người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhằm đạt được lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất không chính đáng. Nếu chủ thể thực hiện hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn mà không xuất phát từ động cơ vụ lợi thì hành vi đó không là hành vi tham nhũng.
II. HÀNH VI THAM NHŨNG
Theo Điều 2 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, có chia các hành vi tham nhũng gồm:
1. Các hành vi tham nhũng trong khu vực nhà nước do người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước thực hiện (gồm 12 hành vi).
1) Tham ô tài sản;
2) Nhận hối lộ;
3) Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản;
4) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi;
5) Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi;
6) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi;
7) Giả mạo trong công tác vì vụ lợi;
8) Đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi;
9) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản công vì vụ lợi;
10) Nhũng nhiễu vì vụ lợi;
11) Không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi;
12) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi.
2. Các hành vi tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước do người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước thực hiện (gồm 3 hành vi). 
1) Tham ô tài sản;
2) Nhận hối lộ;
3) Đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của doanh nghiệp, tổ chức mình vì vụ lợi.
Bạn đọc Hoàng Thế Thành (Giảng Võ - Ba Đình - Hà Nội) hỏi:
Luật sư có thể cho biết những điểm nổi bật trong quy định pháp luật phòng, chống tham nhũng hiện hành so với trước đây?
Luật sư Nguyễn Hồng Tuyến trả lời:
Trước đây, Luật PCTN 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012) chỉ quy định hành vi tham nhũng đối với chủ thể thuộc khu vực Nhà nước. Tuy nhiên, một điểm mới quan trọng của Luật PCTN 2019 quy định hành vi này có thể được thực hiện bởi cả chủ thể giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức thuộc khu vực ngoài Nhà nước.
Thứ nhất, mở rộng đối tượng phải kê khai tài sản, thu nhập
Những người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập được Luật này quy định tại Điều 34. Theo đó, các đối tượng phải kê khai tài sản, thu nhập không còn được gói gọn ở “một số cán bộ, công chức” như quy định tại Luật cũ, mà được mở rộng như sau: Cán bộ, công chức; sĩ quan công an nhân dân; sĩ quan quân đội Nhân dân, quân nhân chuyên nghiệp; người giữ chức vụ từ Phó trưởng phòng và tương đương trở lên công tác tại các đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp Nhà nước, người được cử làm đại diện phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp; người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND).
Thứ hai, bổ sung một số loại tài sản, thu nhập phải kê khai
Ngoài phải kê khai các loại tài sản, thu nhập như quy định trước đây, như: Nhà, đất; kim khí quý, đá quý, tiền, giấy tờ có giá mà mỗi tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên; Tài sản, tài khoản ở nước ngoài. Luật mới yêu cầu các đối tượng nêu trên còn phải kê khai thêm công trình xây dựng và tài sản khác gắn liền với đất, nhà ở, công trình xây dựng. Đồng thời, các đối tượng còn phải kê khai cả tổng thu nhập giữa 2 lần kê khai.
 Luật sư Nguyễn Hồng Tuyến trả lời độc giả tại buổi tọa đàm. Ảnh: Phạm Hùng
Thứ ba, biến động tài sản từ 300 triệu đồng/năm phải kê khai bổ sung
Theo khoản 2 Điều 36, người có nghĩa vụ kê khai phải thực hiện kê khai bổ sung khi có biến động về tài sản, thu nhập trong năm có giá trị từ 300 triệu đồng trở lên. Trường hợp có biến động tài sản như trên mà không giải trình hợp lý về nguồn gốc tài sản, cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập có trách nhiệm xác minh. Người có nghĩa vụ kê khai phải giải trình về tính trung thực, đầy đủ, rõ ràng của bản kê khai, nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm. Đồng thời, có quyền khiếu nại quyết định, hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc xác minh tài sản, thu nhập khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật.
Thứ tư, thời điểm kê khai tài sản, thu nhập trước ngày 31/12
Nếu như trước đây, Luật cũ không đề cập đến phương thức và thời điểm kê khai thì nay, Luật Phòng chống tham nhũng 2018 quy định khá cụ thể. Theo đó, việc kê khai tài sản thu nhập được thực hiện theo các phương thức sau: Kê khai lần đầu áp dụng đối với cán bộ, công chức; Sĩ quan; Người giữ chức vụ từ Phó trưởng phòng và tương đương trở lên. Việc kê khai phải hoàn thành trước 31/12/2019; kê khai bổ sung áp dụng với người có nghĩa vụ kê khai có biến động về tài sản, thu nhập trong năm có giá trị từ 300 triệu đồng trở lên. Việc kê khai hoàn thành trước ngày 31/12 năm có biến động tài sản; kê khai hàng năm áp dụng với người giữ chức vụ từ Giám đốc Sở và tương đương trở lên; Người làm công tác cán bộ, quản lý tài sản công... Việc kê khai hoàn thành trước ngày 31/12.
Thứ năm, bản kê khai tài sản, thu nhập phải được công khai
Điều 39 của Luật này nêu rõ, bản kê khai của người có nghĩa vụ kê khai phải được công khai tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó thường xuyên làm việc. Bản kê khai của người dự kiến được bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý được công khai tại cuộc họp lấy phiếu tín nhiệm. ản kê khai của người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND phải được công khai theo quy định của pháp luật bầu cử…
Thứ sáu, kê khai không trung thực có thể bị buộc thôi việc
Theo khoản 3 Điều 51, cán bộ, công chức kê khai không trung thực về tài sản, thu nhập có thể bị xử lý kỷ luật bằng một trong các hình thức: Cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc hoặc bãi nhiệm. 
Trường hợp đã được quy hoạch vào các chức danh lãnh đạo, quản lý thì còn bị đưa ra khỏi danh sách quy hoạch; trường hợp xin thôi làm nhiệm vụ, từ chức, miễn nhiệm thì có thể xem xét không kỷ luật. Trường hợp người được dự kiến bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, phê chuẩn, cử giữ chức vụ mà kê khai không trung thực thì không được bổ nhiệm, phê chuẩn hoặc cử vào chức vụ dự kiến. Trường hợp người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND mà kê khai không trung thực thì bị xóa tên khỏi danh sách những người ứng cử.
Thứ bảy, cơ quan xảy ra tham nhũng, người đứng đầu phải chịu trách nhiệm
Điều 72 của Luật này quy định về trách nhiệm của người đứng đầu và cấp phó khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức do mình quản lý, phụ trách như sau: Người đứng đầu phải chịu trách nhiệm trực tiếp nếu người do mình trực tiếp quản lý, giao nhiệm vụ tham nhũng; cấp phó phải chịu trách nhiệm trực tiếp nếu xảy ra tham nhũng trong lĩnh vực công tác và trong đơn vị do mình được giao trực tiếp phụ trách; người đứng đầu phải chịu trách nhiệm liên đới.
ĐẶT CÂU HỎI :