DÒNG SỰ KIỆN. * ĐẠI DỊCH COVID-19 * GIA ĐÌNH THỜI COVID * CÙNG KINH TẾ & ĐÔ THỊ CHUNG TAY PHÒNG, CHỐNG DỊCH COVID-19

3.400 tỷ đồng thực hiện đề án phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững đồng bằng sông Cửu Long

GIANG LAM
24-08-2021 16:28
Kinhtedothi - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vừa có quyết định phê duyệt Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản (NTTS) bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đến năm 2030, với mục tiêu đến năm 2030 tốc độ tăng trưởng giá trị NTTS đạt trên 4%/năm; giá trị xuất khẩu đạt trên 9 tỷ USD…

Đề án nhằm mục tiêu phát triển NTTS vùng ĐBSCL bền vững, phù hợp với điều kiện từng vùng sinh thái và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH), xâm nhập mặn, nước biển dâng.

Nâng cao năng suất, sản lượng, chất lượng, giá trị sản phẩm và hiệu quả sản xuất dựa trên việc tổ chức sản xuất phù hợp, đầu tư đồng bộ và áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào toàn chuỗi giá trị sản phẩm; đưa NTTS trở thành lĩnh vực có đóng góp quan trọng vào tăng trưởng của ngành nông nghiệp và phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL.

Cụ thể đến năm 2030, tốc độ tăng trưởng giá trị NTTS đạt trên 4%/năm; giá trị xuất khẩu (XK) đạt trên 9 tỷ USD, trong đó XK tôm nước lợ và cá tra đạt trên 80%.

Diện tích NTTS đạt trên 990.000ha, trong đó, tôm nước lợ 720.000ha, cá tra 7.447ha, cá rô phi đạt 6.350ha...

Sản lượng NTTS đạt trên 4,8 triệu tấn. Trong đó, tôm nước lợ đạt trên 1,2 triệu tấn; cá tra khoảng 2 triệu tấn; tôm càng xanh trên 80.000 tấn; cá rô phi trên 175.000 tấn; nhuyễn thể đạt trên 250.000 tấn và các loài thủy sản khác đạt khoảng 1,1 triệu tấn.

Nuôi cá tra ở ĐBSCL. Ảnh: Giang Lam 

100% vùng NTTS tập trung được kiểm soát môi trường, dịch bệnh  và an toàn thực phẩm; giảm tỷ lệ diện tích thiệt hại do một số bệnh nguy hiểm gây ra trên tôm nuôi nước lợ xuống dưới 10%/năm và cá tra dưới 8%/năm.

Diện tích và sản lượng NTTS được sản xuất theo mô hình hợp tác và liên kết chuỗi đạt trên 30%. Lao động NTTS được tập huấn, đào tạo nghề đạt trên 30%. Diện tích NTTS đạt một trong các chứng nhận GAP, hữu cơ và các chứng nhận chất lượng khác đạt trên 20%.

Hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu, đặc biệt là hệ thống thủy lợi đáp ứng được trên 50% nhu cầu ở các vùng NTTS tập trung. Phát triển NTTS theo vùng sinh thái, xây dựng các vùng NTTS tập trung thích ứng với BĐKH…

Tổng nhu cầu kinh phí thực hiện đề án khoảng 3.400 tỷ đồng. Trong đó, vốn ngân sách là 1.000 tỷ đồng và vốn từ các nguồn khác là 2.400 tỷ đồng.

Trong các chương trình, dự án ưu tiên thực hiện, có dự án Đầu tư nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng vùng NTTS tập trung thích ứng với BĐKH, vùng chuyển đổi từ đất sản xuất nông nghiệp bị ảnh hưởng bởi BĐKH sang NTTS, có tổng vốn 3.000 tỷ đồng từ nguồn vốn ngân sách, vốn vay ODA, vốn xã hội hóa và vốn từ các chương trình, dự án đã phê duyệt.

Dự án truy xuất, giám sát nguồn gốc thủy sản nuôi trồng 200 tỷ đồng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước và xã hội hóa. Dự án về giống các đối tượng chủ lực, tiềm năng phục vụ nuôi thương phẩm giai đoạn 2021-2030 có vốn 100 tỷ đồng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước…