DÒNG SỰ KIỆN. * KỲ HỌP THỨ NHẤT, QUỐC HỘI KHÓA XV * HĐND TP HÀ NỘI KHÓA XVI, NHIỆM KỲ 2021 - 2026 * ĐẠI DỊCH COVID-19 * EURO 2021 * CÙNG KINH TẾ & ĐÔ THỊ CHUNG TAY PHÒNG, CHỐNG DỊCH COVID-19

Giá thép xây dựng hôm nay 22/7: Trong nước tiếp tục chuỗi ngày đi ngang

Thành Luân
22-07-2021 13:44
Kinhtedothi - Giá thép xây dựng hôm nay 22/7 tại thị trường trong nước tiếp tục ổn định nhiều ngày liên tiếp. Trên sàn giao dịch Thượng Hải đã quay đầu giảm xuống mức 5.518 Nhân dân tệ/tấn.
Giá thép xây dựng hôm nay, trong nước tiếp tục ổn định, trên sàn giao dịch quay đầu giảm.

Giá thép tại miền Bắc
Tập đoàn Hòa Phát tiếp tục duy trì bình ổn giá bán, hiện dòng thép cuộn CB240 ở mức 16.290 đồng/kg; thép D10 CB300 duy trì mức giá 16.600 đồng/kg.
Tương tự, thương hiệu thép Việt Ý, hiện dòng thép cuộn CB240 ở mức 16.390 đồng/kg; thép D10 CB300 duy trì mức giá 16.550 đồng/kg.
Thương hiệu thép Việt Đức, với dòng thép cuộn CB240 ở mức 16.340 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 16.680 đồng/kg.
Thương hiệu Thép Mỹ, với dòng thép cuộn CB240 ở mức 15.690 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 16.800 đồng/kg.
Thương hiệu thép Kyoei, hiện dòng thép cuộn CB240 ở mức 16.340 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 16.700 đồng/kg.
Tại thị trường miền Bắc, hiện dòng thép cuộn CB240 dao động từ 15.690 - 16.390 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá từ 16.550 - 16.800 đồng/kg.
Giá thép tại miền Trung
Thương hiệu thép Hòa Phát, hiện thép cuộn CB240 duy trì ở mức 16.390 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 16.800 đồng/kg.
Thương hiệu Thép Việt Đức tiếp tục ổn định giá bán từ 1/7, dòng thép cuộn CB240 ở mức 16.700 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 17.050 đồng/kg.
Thương hiệu thép Pomina ổn định giá từ ngày 21/6 tới nay, với dòng thép cuộn CB240 ở mức 16.290 đồng/kg; thép D10 CB300 có giá là 17.150 đồng/kg.
Thương hiệu thép Việt Mỹ, hiện  thép cuộn CB240 có giá 16.190 đồng/kg, thép thanh vằn D10 CB300 ở mức 16.040 đồng/kg.
Thị trường miền Trung, hiện dòng thép cuộn CB240 có mức từ 16.190 - 16.700 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá dao động từ 16.040 - 17.150 đồng/kg.
Giá thép tại miền Nam
Thương hiệu Hòa Phát, với thép cuộn CB240 ở mức 16.290 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 16.550 đồng/kg.
Thương hiệu thép Pomina, với thép cuộn CB240 ở mức 16.140 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 17.000 đồng/kg.
Thương hiệu thép Tung Ho, dòng thép cuộn CB240 hiện ở mức 16.190 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 16.340 đồng/kg.
Tại thị trường miền Nam, hiện dòng thép cuộn CB240 có giá từ 16.140 - 16.290 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá dao động từ 16.340 - 17.000 đồng/kg.
Giá thép trên sàn giao dịch
Giá thép giao kỳ hạn tháng 10/2021 trên sàn giao dịch Thượng Hải quay đầu giảm 82 Nhân dân tệ xuống mức 5.518 Nhân dân tệ/tấn.
Trong nước, Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương) cho biết, Ủy ban Chống bán phá giá Australia(ADC) vừa gia hạn lần thứ 5 thời gian ban hành Kết luận điều tra cuối cùng vụ việc điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với sản phẩm ống thép chính xác có xuất xứ từ Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc), mã vụ việc 550.
Trước đó, ngày 1/6/2021, ADC đã ban hành kết luận điều tra sơ bộ xác định ống thép chính xác có xuất xứ từ Việt Nam không bán phá giá và không nhận trợ cấp từ Chính phủ.
Về cáo buộc tình hình thị trường đặc biệt (PMS), ADC cho rằng không có bằng chứng cho thấy có sự khác biệt về giá nguyên liệu giữa Việt Nam và các nước khác; và không có sự tác động của Chính phủ làm lệch lạc giá trị thông thường; các văn bản quy hoạch định hướng tổng thể cho ngành thép không còn hiệu lực ảnh hưởng. Chính vì vậy, ADC kết luận không tồn tại PMS tại Việt Nam.
Về cáo buộc bán phá giá và trợ cấp, tất cả các doanh nghiệp Việt Nam đều được kết luận có biên độ bán phá giá âm (không bán phá giá) và không nhận trợ cấp hoặc nhận trợ cấp không đáng kể từ Chính phủ.
Cụ thể, biên độ bán phá giá xác định cho các doanh nghiệp Việt Nam từ -12,2% tới -6,5%; biên độ trợ cấp từ 0% tới 0,01%.
Về mối quan hệ nhân quả, ADC kết luận hàng hóa từ Việt Nam và Đài Loan không gây ra thiệt hại đáng kể. Thiệt hại của ngành sản xuất trong nước xuất phát từ hàng hóa có xuất xứ Trung Quốc và Hàn Quốc.
Mức thuế CBPG sơ bộ mà các nhà sản xuất, xuất khẩu Hàn Quốc bị áp dụng là 6,2%; tổng mức thuế CBPG và CTC mà các nhà sản xuất, xuất khẩu Trung Quốc bị áp dụng từ 11,9 -‘ 54,5%.
Ở giai đoạn tiếp theo, sau khi ban hành kết luận điều tra cuối cùng, ADC sẽ báo cáo và kiến nghị Bộ trưởng Bộ Công nghiệp, Khoa học và Công nghệ Australia đưa ra quyết định chính thức về vụ việc.