Hạ tầng khí – mắt xích then chốt trong lộ trình chuyển dịch năng lượng xanh
Kinhtedothi - Chương trình Hội thảo khoa học: Ứng dụng khí tự nhiên trong công nghiệp - hướng tới sản xuất xanh và Net-zero 2050 đã diễn ra vào sáng ngày 22/1 tại Thành phố Hà Nội do Hiệp hội Năng lượng sạch Việt Nam tổ chức. Hội thảo có sự đồng hành của Tổng Công ty Khí Việt Nam – CTCP (PV GAS).
Khí tự nhiên đang được xem là nhiên liệu chuyển tiếp quan trọng của Việt Nam trong lộ trình chuyển dịch năng lượng hướng tới tăng trưởng xanh và phát thải ròng bằng “0”. Tuy nhiên, từ góc nhìn cung – cầu và khả năng triển khai thực tế, nhiều ý kiến tại hội thảo cho rằng hạ tầng khí hiện nay chính là “nút thắt” mang tính quyết định, ảnh hưởng trực tiếp tới tốc độ và hiệu quả chuyển dịch năng lượng trong lĩnh vực công nghiệp.
Từ góc độ triển khai thực tiễn, hạ tầng khí còn là yếu tố quyết định khả năng “lan tỏa” của chuyển dịch năng lượng vào khu vực sản xuất công nghiệp – nơi phát thải lớn nhưng cũng có tiềm năng giảm phát thải nhanh nhất. Việc hình thành các tuyến ống nhánh, trạm phân phối khí, mô hình LNG quy mô nhỏ và hạ tầng dùng chung cho các khu công nghiệp sẽ giúp khí tự nhiên tiếp cận trực tiếp doanh nghiệp, đặc biệt là nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khi được tiếp cận nguồn năng lượng sạch hơn với chi phí và cơ chế ổn định, doanh nghiệp có thể chủ động đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng, từng bước chuyển đổi sang mô hình sản xuất xanh, từ đó đóng góp thực chất vào mục tiêu giảm phát thải và hiện thực hóa cam kết Net Zero 2050 của Việt Nam.
Theo TS. Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam chia sẻ tại “Hội thảo khoa học: Ứng dụng khí tự nhiên trong công nghiệp - hướng tới sản xuất xanh và Net-zero 2050”, hệ thống hạ tầng khí của Việt Nam đã hình thành một số trục chính quan trọng như đường ống Nam Côn Sơn, PM3 – Cà Mau, tuyến Thái Bình – Tiền Hải. Đối với LNG, kho cảng Thị Vải đã chính thức đi vào vận hành và đang được mở rộng, tạo tiền đề cho việc đa dạng hóa nguồn cung khí trong tương lai.
TS. Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam đưa ra các nhận định trong Phiên Thảo luận
Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc cấp khí hiện nay vẫn chủ yếu phục vụ phát điện và sản xuất đạm, trong khi khả năng cung cấp trực tiếp cho các khu công nghiệp còn rất hạn chế. Khoảng trống lớn nhất nằm ở sự thiếu vắng các tuyến kết nối nhánh và mô hình phân phối phù hợp cho sản xuất công nghiệp – khu vực được kỳ vọng đóng vai trò trung tâm trong quá trình chuyển đổi sang năng lượng sạch.
Điểm nghẽn cốt lõi được các chuyên gia chỉ ra là sự thiếu đồng bộ giữa quy hoạch hạ tầng khí và quy hoạch phát triển khu công nghiệp, khu kinh tế. Trong khi các khu công nghiệp liên tục được phê duyệt và mở rộng với tốc độ nhanh, hạ tầng năng lượng, đặc biệt là hạ tầng khí, lại chưa theo kịp. Cơ chế chia sẻ rủi ro cho các dự án đầu tư kết nối vẫn còn thiếu và chưa rõ ràng, khiến cả doanh nghiệp khí lẫn nhà đầu tư khu công nghiệp đều e ngại trong việc đầu tư sớm.
Một hạn chế khác là hạ tầng khí hiện nay chưa tiếp cận được nhóm khách hàng công nghiệp nhỏ và vừa – phân khúc được nhiều quốc gia xác định là động lực chính của quá trình chuyển dịch năng lượng. Việt Nam vẫn thiếu các mô hình LNG quy mô nhỏ, các trạm LNG vệ tinh hay cụm khách hàng công nghiệp dùng chung hạ tầng, trong khi nhu cầu thị trường và sự quan tâm của nhà đầu tư đang ngày càng gia tăng.
Từ góc độ chính sách, ông Nguyễn Khắc Quyền, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương cho rằng cần sớm hoàn thiện khung thể chế cho phát triển và sử dụng khí tự nhiên trong công nghiệp theo hướng đồng bộ, minh bạch và có tính dự báo dài hạn. Trọng tâm là rà soát, thống nhất các quy định pháp luật trong toàn chuỗi công nghiệp khí, từ thăm dò, khai thác đến vận chuyển, phân phối và nhập khẩu LNG; đồng thời tháo gỡ các rào cản về thủ tục đầu tư, phân định rõ vai trò quản lý nhà nước và hoạt động kinh doanh.
Ông Nguyễn Khắc Quyền, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương phát biểu tham luận tại Hội thảo
Bên cạnh đó, việc xây dựng cơ chế giá khí và giá điện khí LNG theo nguyên tắc thị trường, phản ánh đầy đủ chi phí toàn chuỗi và có lộ trình ổn định trung, dài hạn được xem là điều kiện tiên quyết. Trong giai đoạn đầu, Nhà nước có thể áp dụng các công cụ hỗ trợ có mục tiêu nhằm khuyến khích doanh nghiệp chuyển đổi từ than, dầu sang khí tự nhiên, tiến tới gắn với cơ chế định giá carbon và mục tiêu Net Zero.
Ở góc độ kỹ thuật, PGS. TS. Phạm Hoàng Lương, Trưởng Nhóm chuyên môn Hệ thống Năng lượng nhiệt, Trường Cơ khí, Đại học Bách Khoa Hà Nội, Phó Chủ tịch Hiệp Hội Năng lượng Sạch Việt Nam phân tích, khí tự nhiên có đặc tính cháy sạch, hiệu suất cao. So với than, việc sử dụng khí tự nhiên có thể giúp giảm tối thiểu 43% lượng phát thải CO₂ cho cùng một đơn vị năng lượng đầu ra, đồng thời gần như loại bỏ SO₂, bụi mịn và giảm mạnh NOx – những tác nhân gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Tuy nhiên, khả năng chuyển đổi từ than sang khí phụ thuộc lớn vào đặc thù công nghệ của từng ngành. Với các lò hơi truyền thống, có thể áp dụng giải pháp đồng đốt khí ở mức 10–20% trong giai đoạn chuyển tiếp nhằm giảm phát thải. Ngược lại, với những ngành như luyện kim, việc thay thế than cốc bằng khí tự nhiên đòi hỏi thay đổi căn bản công nghệ, kéo theo chi phí đầu tư và đào tạo nhân lực rất lớn.
Về dài hạn, các chuyên gia cho rằng Việt Nam cần một tầm nhìn nhất quán, coi khí tự nhiên là nhiên liệu chuyển tiếp, đồng thời từng bước chuẩn bị nền tảng cho các nhiên liệu sạch hơn như hydrogen trong giai đoạn sau năm 2040–2050. Khi được đặt đúng vai trò, hạ tầng khí không chỉ giải quyết bài toán trước mắt, mà còn trở thành bệ đỡ quan trọng cho phát triển công nghiệp xanh và mục tiêu Net Zero của Việt Nam.

Chuyển dịch năng lượng xanh – trụ cột mới của hợp tác kinh tế quốc tế
Kinhtedothi - Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang tái cấu trúc mạnh mẽ, năng lượng không còn được nhìn nhận như một yếu tố đầu vào đơn thuần cho tăng trưởng, mà đã trở thành trụ cột chiến lược của hợp tác kinh tế quốc tế. Đặc biệt, năng lượng xanh đang nổi lên như điểm giao thoa giữa mục tiêu phát triển, bảo đảm an ninh năng lượng và thực hiện các cam kết khí hậu, buộc các quốc gia phải điều chỉnh lại mô hình hợp tác truyền thống.

Hà Nội vinh danh 87 cơ sở công trình sử dụng năng lượng xanh
Kinhtedothi - Tối 10/12, Sở Công Thương Hà Nội tổ chức lễ trao danh hiệu cơ sở, công trình xây dựng sử dụng năng lượng xanh TP Hà Nội năm 2025.

Chuyển đổi năng lượng xanh - hướng đi bền vững cho các đại đô thị
Kinhtedothi - Trong bối cảnh toàn cầu đang đối mặt với biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và suy giảm tài nguyên, việc lựa chọn con đường phát triển xanh, chuyển dịch năng lượng sạch là xu thế tất yếu và là trách nhiệm chung của các quốc gia.





