Hôn nhân cận huyết và nguy cơ trẻ sinh ra mắc nhiều bệnh lý

Trà Long
Chia sẻ

Kinhtedothi - Câu chuyện Tịnh thất Bồng Lai liên quan ông Lê Tùng Vân bị tố cáo quan hệ loạn luân với chính em gái ruột, con gái ruột khiến đang khiến dư luận dậy sóng. Vậy những trẻ được sinh ra bởi một mối quan hệ cận huyết thống sẽ có những nguy cơ nào về sức khỏe?

Hôn nhân cận huyết thống là gì?

Hôn nhân cận huyết được hiểu là hôn nhân giữa nam và nữ trong cùng họ hàng thân thuộc chưa quá ba thế hệ. Đó là việc kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng huyết thống trực hệ với nhau; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời.

Sơ đồ mô phỏng mối quan hệ hôn nhân cận huyết thống 3 đời.
Sơ đồ mô phỏng mối quan hệ hôn nhân cận huyết thống 3 đời.

Theo định nghĩa cụ thể của Luật Hôn nhân Gia đình thì có thể hiểu hôn nhân cận huyết thống là việc kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, giữa những người có họ trong phạm vi ba đời, giữa cha mẹ nuôi với con nuôi, giữa người từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

Song song đó, định nghĩa thế nào là cùng dòng máu trực hệ và thế nào là người có họ trong phạm vi ba đời thì Luật hôn nhân gia đình 2014 cũng có quy định:

Theo Khoản 17 Điều 3: “Những người cùng dòng máu về trực hệ là những người có quan hệ huyết thống. Trong đó, người này sinh ra người kia kế tiếp với nhau”.

Theo Khoản 18 Điều 3: “Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra, gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em, con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba”.

Hệ lụy đến sức khỏe, tương lai

Theo các chuyên gia y tế, việc kết hôn cận huyết thống dẫn đến rất nhiều hệ lụy khôn lường, ảnh hưởng đến nòi giống, đến sức khỏe của đứa con sinh ra. Đứa con sinh ra ít nhiều gì cũng có mang một số gen bệnh lý ở thể lặn nên không biểu hiện ra ngoài. Nhưng nếu cùng dòng máu trực hệ lấy nhau, bệnh lý từ các gen lặn này trong họ nguy cơ trùng nhau tăng gấp nhiều lần và sẽ trở thành gen trội ở những đứa con sinh ra và các bệnh lý bẩm sinh sẽ xuất hiện như các bệnh về máu, các bệnh dị dạng về xương, thiểu năng trí tuệ, lùn, ốm yếu và nhiều dị dạng khác và những bệnh lý này làm cho thai chết non, trẻ chết sớm hoặc  không thể chữa dứt được. Bệnh lại di truyền tiếp cho thế hệ sau làm cho suy thoái  giống nòi dần. Từ đó làm cho con sinh ra mắc các căn bện nêu trên và rất chậm phát triển.

Có thể kể đến những bệnh gặp phải khi đứa trẻ sinh ra từ quan hệ cận huyết thống:

- Dị tật bẩm sinh do rối loạn di truyền

- Khiếm thính sớm

- Suy giảm thị lực sớm

- Chậm phát triển trí tuệ hoặc khuyết tật gây ảnh hưởng đến khả năng học tập, lao động

- Chậm phát triển hoặc không phát triển về thể chất

- Rối loạn máu di truyền

- Động kinh

Ngoài ra, có một vài bệnh nghiêm trọng khác chưa được chẩn đoán. Một số trường hợp mang thai do mối quan hệ cận huyết có thể dẫn đến sảy thai hoặc thai chết lưu.

Khi nói về hệ lụy của hôn nhân cận huyết thống, PGS.TS Trần Danh Cường - Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Trung ương cho biết: “Mắc những bệnh di truyền này rất nguy hiểm, có thể là những bệnh liên quan đến trí tuệ con người, huyết học, ung thư… Hôn nhân cận huyết là điều kiêng kỵ, phải loại bỏ, bởi để lại nhiều hệ lụy ở thế hệ trẻ em sinh ra từ cặp vợ chồng cận huyết.

Điều nguy hiểm hơn, về mặt hình thái, những em bé này có thể hoàn toàn bình thường, nhưng các bệnh lý chuyển hóa, bệnh lý di truyền có thể tiềm ẩn hoặc biểu hiện ở thế hệ sau của các em bé này. Vì thế, ngay lúc đầu, người ta không nhìn ra được sự nguy hại của hôn nhân, loạn luân sinh ra các em bé cận huyết”.

Đơn cử, căn bệnh Thalassemia rất phổ biến ở Việt Nam, đặc biệt ở các tỉnh miền núi phía Bắc, nơi mà hôn nhân cận huyết thường xảy ra. Bệnh Thalassemia là do tan máu di truyền với triệu chứng nổi bật là thiếu máu và ứ sắt trong cơ thể nên bệnh nhân phải điều trị suốt đời. Nếu không căn bệnh này sẽ khiến họ chậm phát triển, giảm khả năng học tập, lao động…

Việt Nam hiện có khoảng 13 triệu người, tương đương 13% dân số mang gen bệnh tan máu bẩm sinh. Trong đó, tỷ lệ người dân đồng bào dân tộc miền núi chiếm tỷ lệ khá cao, từ 20- 40%.

Đây là bệnh lý khiến trẻ phải điều trị suốt đời, ảnh hưởng rất nhiều đến thể hình, trí tuệ, sức khỏe của trẻ.

Nói về lý do tỷ lệ người dân mang gen thalassemia ở vùng miền núi, đặc biệt là ở các đồng bào dân tộc thiểu số cao, TS Bạch Quốc Khánh – Viện trưởng Viện Huyết học Truyền máu Trung ương cho biết, một trong những nguyên nhân chính là do kết hôn cận huyết. “Thói quen hôn nhân cận huyết hoặc chỉ lấy người trong cộng đồng của mình khiến tỷ lệ sinh ra các cháu bé mắc bệnh cao. Nếu hai người mang gen gặp nhau khả năng sinh ra trẻ bị bệnh là 25%”, TS Khánh nói.

Tin đọc nhiều

Kinh tế đô thị cuối tuần