Phát triển công nghiệp văn hóa: Hấp dẫn - Thông thoáng - Chặt chẽ
Trong hành trình đưa công nghiệp văn hóa thành ngành kinh tế trọng điểm, Hà Nội và các địa phương trong cả nước đứng trước câu hỏi rất thực tế: Làm sao để chính sách đủ hấp dẫn để thu hút đầu tư, đủ thông thoáng để khuyến khích sáng tạo, nhưng cũng phải đủ chặt chẽ để bảo vệ nguồn lực công và ngăn ngừa việc lợi dụng chính sách?
Chương trình biểu diễn nghệ thuật tại Hoàng thành Thăng Long. Ảnh: NT.
Hà Nội biến phát triển công nghiệp văn hóa thành nguồn lực nội sinh
Hà Nội là địa phương đầu tiên ban hành Nghị quyết chuyên đề về công nghiệp văn hóa (Nghị quyết 09-NQ/TU ngày 22/2/2022), mở đường cho một chuỗi chính sách cụ thể có lộ trình, có số liệu. Theo đó, trong bức tranh phát triển Thủ đô, văn hóa không chỉ là “đối tượng cần bảo tồn”, mà được nhìn nhận như một “nguồn lực nội sinh” có khả năng tạo ra giá trị kinh tế, việc làm và sức cạnh tranh.
Sau hơn 4 năm thực hiện Nghị quyết 09-NQ/TU, Hà Nội đã cụ thể hóa thành Chương trình hành động số 08-CTr/TU, nâng mục tiêu đóng góp của công nghiệp văn hóa vào GRDP lên khoảng 9% đến năm 2030, kèm chỉ tiêu xây dựng 15-20 trung tâm công nghiệp văn hóa, thương mại văn hóa, thiết kế sáng tạo, 10-15 tác phẩm nghệ thuật chất lượng cao mang thương hiệu Hà Nội, 3-5 sự kiện quốc gia về thiết kế sáng tạo.
Kế hoạch 128/KH-UBND cũng cụ thể hóa Chương trình hành động thành 24 chỉ tiêu, 77 nhiệm vụ, gắn với phân công rõ ràng cho từng sở, ban, ngành. Đây chính là bước chuyển từ “ý tưởng chính trị” sang “cơ chế vận hành” - điều kiện tiên quyết để chính sách phát triển công nghiệp văn hóa không dừng ở văn bản.
Trên cơ sở định hướng chiến lược cụ thể, đến nay, Hà Nội đã hình thành 82 không gian sáng tạo, kết nối với 11 trường đại học, cùng 4 trung tâm, khu phát triển công nghiệp văn hóa, thương mại văn hóa. Định hướng của thành phố là mỗi trung tâm công nghiệp văn hóa phải có mô hình vận hành, sản phẩm chủ lực, nguồn lực xã hội và nguồn thu từ dịch vụ. Nói cách khác, không chỉ xây nhà, mà phải có “linh hồn” - nội dung, sự kiện, cộng đồng sáng tạo, doanh nghiệp cùng tham gia. Đây chính là điểm giao thoa giữa chính sách và thực tiễn. Chính sách tạo khung, thực tiễn tạo nội dung.
Danh mục nguồn lực đầu tư cho công nghiệp văn hóa giai đoạn 2026–2030 lên tới 20.762 tỷ đồng, trong đó phân bổ 8.179 tỷ đồng cho 426 dự án; riêng năm 2026, ngân sách chi thường xuyên là 1.773 tỷ đồng. Đây là con số rất lớn, nhưng cũng cho thấy một thực tế nguồn lực nhà nước cần thiết nhưng chưa đủ. Vì vậy, định hướng của Hà Nội là xây dựng cơ chế để doanh nghiệp, nghệ sĩ, nhà sáng tạo, cộng đồng cùng tham gia. Mỗi trung tâm công nghiệp văn hóa phải có nguồn lực xã hội và nguồn thu từ dịch vụ, không phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách. Đây chính là hướng đi để chính sách vừa “hấp dẫn” để thu hút đầu tư, vừa “chặt chẽ” để bảo đảm hiệu quả sử dụng nguồn lực công.
Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh trình bày Tờ trình dự án Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa tại Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XVI. Ảnh: Cổng TTĐT Quốc hội.
Hấp dẫn, thông thoáng nhưng phải chặt chẽ
Công nghiệp văn hóa được đề cập trong các chủ trương lớn của Đảng và cụ thể hóa bằng những chiến lược phát triển của Chính phủ. Tuy nhiên, tỷ trọng đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa trong GDP giai đoạn 2018-2025 chỉ ước đạt khoảng 4-5%, trong khi mục tiêu mà Việt Nam đề ra đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP.
Bởi vậy, để công nghiệp văn hóa thực sự trở thành ngành kinh tế quan trọng, các đại biểu Quốc hội cho rằng, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa cần xây dựng theo hướng kiến tạo, lấy doanh nghiệp và người sáng tạo làm trung tâm, khuyến khích đổi mới sáng tạo, phát triển các ngành công nghiệp văn hóa trọng điểm.
Cụ thể hóa định hướng này, dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được xem xét tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XVI, tập trung vào 6 nhóm chính sách: Thúc đẩy sáng tạo và bảo hộ sở hữu trí tuệ; phát triển nguồn nhân lực; đầu tư hạ tầng và không gian sáng tạo; xây dựng hệ sinh thái và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát; phát triển thị trường; cùng chính sách tài chính, ưu đãi đầu tư.
Đáng chú ý dự thảo đề xuất ưu đãi đầu tư đối với hạ tầng, cụm và khu công nghiệp sáng tạo văn hóa, sản phẩm có bản sắc Việt Nam, sản phẩm trọng điểm và dự án đầu tư nước ngoài thuộc diện ưu tiên thu hút. Dự thảo cũng đề xuất hỗ trợ một phần chi phí sản xuất đối với dự án công nghiệp văn hóa có giá trị kinh tế cao, đáp ứng điều kiện quy định…
Đây là những “cú hích” rất cần thiết. Trong thực tế, nhiều dự án công nghiệp văn hóa có thời gian hoàn vốn dài, giá trị tài sản vô hình lớn (bản quyền, thương hiệu, nội dung số), trong khi tiếp cận tín dụng vẫn khó. Vì vậy, dự thảo đề xuất đa dạng hóa nguồn tài chính, cho phép quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách hỗ trợ công nghiệp văn hóa; mở rộng đầu tư mạo hiểm và cơ chế bảo lãnh tín dụng dựa trên quyền sở hữu trí tuệ.
Đại biểu Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm (Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội) góp ý xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa trong phiên thảo luận tổ tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI.
Không chỉ vậy, dự thảo cũng thể hiện tinh thần “thông thoáng” qua việc cắt, giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh tại 7 điều và thủ tục hành chính tại 2 điều, nhằm tháo gỡ rào cản cho doanh nghiệp và chủ thể sáng tạo. Đây là hướng đi đúng, bởi công nghiệp văn hóa vốn là lĩnh vực của sáng tạo, cần không gian thử nghiệm, linh hoạt trong sản xuất, phân phối và tiêu thụ sản phẩm.
Minh chứng bằng thực trạng nhiều phường nội thành của Hà Nội đang đối mặt với bài toán khai thác quỹ đất di dời của các nhà máy cũ, cơ cở công nghiệp cũ dôi dư, đại biểu Nguyễn Hoàng Trường (Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội) cho rằng, Khoản 1 Điều 17 dự thảo Luật tuy đã cho phép chuyển đổi nhà máy cũ thành tổ hợp sáng tạo văn hóa, nhưng lại chưa giải quyết được vướng mắc cốt lõi về pháp luật đất đai và tài sản công: Việc chuyển đổi công năng tài sản công hoặc cho thuê liên doanh liên kết tại cấp cơ sở vẫn bị vướng quy trình đấu thầu, định giá đất thương mại dịch vụ thông thường rất phức tạp. Từ thực tiễn đó, đại biểu Nguyễn Hoàng Trường kiến nghị bổ sung khoản 1, Điều 17 dự thảo Luật một quy định chuyển tiếp mang tính đặc thù: “Việc cải tạo, chuyển đổi công năng các công trình công nghiệp dôi dư, di dời thành tổ hợp sáng tạo văn hóa tại các đô thị đặc biệt được áp dụng cơ chế đặc thù về quy hoạch, đất đai theo quy định của Luật Thủ đô và pháp luật về phát triển đô thị”.
Ở góc nhìn khác, “hấp dẫn”, “thông thoáng” không đồng nghĩa với “buông lỏng”. Đồng tình với việc dành cơ chế ưu đãi để thu hút nguồn lực phát triển công nghiệp văn hóa, nhưng đại biểu Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm (Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội) lưu ý dự thảo Luật cần phân biệt giữa những dự án thực sự tạo ra sản phẩm, giá trị sáng tạo với những dự án chủ yếu mang tính thương mại, dịch vụ nhưng đăng ký dưới danh nghĩa công nghiệp văn hóa.
“Nếu quy định quá rộng, thiếu tiêu chí cụ thể, có thể dẫn đến tình trạng ưu đãi không đến đúng đối tượng, trong khi những doanh nghiệp sáng tạo, nhất là doanh nghiệp nhỏ và các dự án khởi nghiệp, lại khó tiếp cận chính sách”, đại biểu Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm nêu quan điểm.
“Hấp dẫn”, “Thông thoáng”, “Chặt chẽ” không phải ba yêu cầu đối lập mà là ba mặt của một chính sách chiến lược. “Hấp dẫn” để có nguồn lực, “Thông thoáng” để có sáng tạo, “Chặt chẽ” để có bền vững. Khi Luật phát triển công nghiệp văn hóa được xây dựng trên tinh thần đó và triển khai đồng bộ với Luật Thủ đô năm 2026, Hà Nội có đủ cơ sở để tiếp tục giữ vai trò tiên phong, dẫn dắt ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam.

Đánh giá tổng thể, lượng hóa các nguồn lực phát triển công nghiệp văn hóa
Sáng 24-10, tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh trình bày Tờ trình về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa.

Vân Đình: Bảo tồn Phủ Ứng Thiên gắn với phát triển công nghiệp văn hóa
Chiều 10-10, UBND xã Vân Đình tổ chức Hội thảo khoa học tham vấn chuyên gia, nhà khoa học về định hướng bảo tồn và phát huy giá trị di tích Phủ Ứng Thiên gắn với phát triển công nghiệp văn hóa.

Phát triển di sản Hội hát chèo tàu Tổng Gối thành sản phẩm công nghiệp văn hóa
Kinhtedothi – Hội hát chèo tàu Tổng Gối, xã Ô Diên được ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia là cơ hội để địa phương nâng tầm giá trị, đầu tư có chiều sâu, trở thành một sản phẩm của công nghiệp văn hóa, mang lại giá trị kinh tế xanh.






