Quy định về tiền lương làm thêm 60 giờ/tháng

Trần Oanh
Chia sẻ

Kinhtedothi – Tất cả các trường hợp được làm thêm tối đa 300 giờ trong 1 năm đều được làm thêm đến 60 giờ trong 1 tháng và được trả tiền lương làm thêm giờ theo quy định của Bộ luật Lao động.

Bộ LĐTB&XH đã có hướng dẫn sở LĐTB&XH các tỉnh, TP trực thuộc Trung ương khẩn trương triển khai Nghị quyết số 17/2022/UBTVQH15 ngày 24/3/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về số giờ làm thêm trong 1 năm, trong 1 tháng của người lao động trọng bối cảnh phòng, chống dịch Covid-19 và phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội.

Tất cả các trường hợp được làm thêm tối đa 300 giờ trong 1 năm, 60 giờ trong 1 tháng được trả tiền lương làm thêm giờ theo quy định của Bộ luật Lao động. Ảnh: Thanh Hải.
Tất cả các trường hợp được làm thêm tối đa 300 giờ trong 1 năm, 60 giờ trong 1 tháng được trả tiền lương làm thêm giờ theo quy định của Bộ luật Lao động. Ảnh: Thanh Hải.

Cụ thể, các sở LĐTB&XH chủ trì, phối hợp với Liên đoàn Lao động cấp tỉnh và các cơ quan liên quan phổ biến, hướng dẫn thực hiện Nghị quyết số 17/2022/UBTVQH15 trên địa bàn quản lý.

Các trường hợp người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm tối đa 300 giờ trong 1 năm là các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị quyết 17/2022/UBTVQH15 và khoản 3 Điều 107 Bộ luật Lao động.

Tất cả các trường hợp được làm thêm tối đa 300 giờ trong 1 năm đều được làm thêm từ trên 40 giờ đến 60 giờ trong 1 tháng, kể từ ngày 1/4/2022.

Khi tổ chức thực hiện quy định về số giờ làm thêm theo Nghị quyết vẫn phải tuân thủ đầy đủ các quy định khác về làm thêm giờ tại Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn của Bộ luật Lao động. Đó là quy định về giới hạn số giờ làm thêm trong ngày, tiền lương phải trả khi làm thêm giờ, các nội dung về sự đồng ý của người lao động tham gia làm thêm, thông báo khi tổ chức làm thêm trên 200 giờ trong 1 năm…

Khi người sử dụng lao động tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong 1 năm theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị quyết thì phải thông báo cho sở LĐTB&XH theo quy định tại khoản 4 Điều 107 Bộ luật Lao động và Điều 62 Nghị định số 145/2020/NQQ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động.

Điều 98, Bộ luật Lao động quy định Tiền lương làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm: Người lao động làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc đang làm như sau: Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%; vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%; vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày.

Người lao động làm việc vào ban đêm thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương, tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc của ngày làm việc bình thường.

Người lao động làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 của Điều 98 còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày của ngày làm việc bình thường hoặc ngày nghỉ hằng tuần hoặc ngày nghỉ lễ, tết.

Tin đọc nhiều

Kinh tế đô thị cuối tuần