Bài toán cho các năm tới không chỉ là làm sao tăng trưởng nhanh hơn, mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng tăng trưởng, củng cố niềm tin của khu vực tư nhân, và tạo dựng một môi trường chính sách đủ ổn định, minh bạch để kinh tế Việt Nam có thể bước vào giai đoạn tăng trưởng cao và bền vững hơn trong nhiều năm tiếp theo. Về vấn đề này, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Trường đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh đã có cuộc trao đổi với phóng viên Báo Kinh tế & Đô thị.
Năm 2026 là năm đầu tiên chúng ta hướng đến mục tiêu tăng trưởng hai con số. Tăng trưởng 10% trong năm 2026 được các tổ chức quốc tế đánh giá là một mục tiêu “đầy tham vọng” của Việt Nam. Có thể phát huy những mặt được và khắc phục những hạn chế còn tồn tại của năm 2025 như thế nào thưa ông?
- Năm 2025 có thể nói đây là một năm đặc biệt của kinh tế Việt Nam, không chỉ bởi những con số tăng trưởng mà còn bởi tính chất “bản lề” về thể chế và mô hình phát triển. Về những điểm sáng, thành tựu đáng ghi nhận nhất của năm 2025 là việc giữ được ổn định vĩ mô trong bối cảnh quốc tế rất nhiều bất định. Lạm phát được kiểm soát tương đối tốt, thị trường tiền tệ nhìn chung vẫn vận hành ổn định.
Về triển vọng năm 2026, mục tiêu tăng trưởng GDP 10% năm 2026 đúng là rất tham vọng, song hoàn toàn có cơ sở nếu Việt Nam phát huy các “đầu kéo” đủ mạnh và triển khai chính sách đột phá, đồng bộ và quyết liệt.
Nếu chúng ta tiếp tục giữ vững sự ổn định vĩ mô, bảo đảm thu nhập cho người lao động, tiếp tục nâng cao chất lượng hàng hóa dịch vụ, khai thác sâu hơn nữa tiềm năng của du lịch và thương mại điện tử, thì thị trường trong nước với 100 triệu dân sẽ tiếp tục là trụ cột vững chắc, san sẻ gánh nặng cho xuất khẩu và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế chung.
Tuy nhiên, nếu nhìn sâu hơn, năm 2025 cũng bộc lộ khá rõ những điểm “chưa được” của nền kinh tế. Thứ nhất, tăng trưởng còn phụ thuộc nhiều vào đầu tư công và khu vực FDI, trong khi khu vực DN tư nhân trong nước phục hồi chậm, sức chống chịu còn yếu.
Thứ hai, các điểm nghẽn mang tính cấu trúc như năng suất lao động thấp, năng lực đổi mới sáng tạo của DN nội địa còn hạn chế. Thị trường tài chính vẫn lệch về tín dụng ngân hàng, trong khi các kênh dẫn vốn trung và dài hạn như thị trường trái phiếu, quỹ đầu tư, hay các sản phẩm tài chính mới chưa thực sự phục hồi và phát huy vai trò.
Thứ ba, quá trình cải cách thể chế dù đã khởi động mạnh nhưng vẫn còn độ trễ trong thực thi. Việc ban hành chính sách nhanh hơn nhưng khâu triển khai ở nhiều nơi vẫn lúng túng, thiếu đồng bộ, khiến chi phí tuân thủ của doanh nghiệp chưa giảm như mong đợi.
Tóm lại, năm 2025 là một năm “đặt nền” với nhiều thành tựu quan trọng về ổn định vĩ mô nhưng cũng cho thấy rõ những hạn chế nội tại của mô hình tăng trưởng hiện nay.
Vậy theo ông, trong thời gian tới đâu là ưu tiên chính sách quan trọng nhất để tăng trưởng bền vững?
- Tăng trưởng kinh tế toàn cầu phục hồi chậm và không đồng đều, thương mại quốc tế chịu nhiều tác động từ căng thẳng địa chính trị, xu hướng bảo hộ gia tăng, chính sách tiền tệ toàn cầu duy trì sự thận trọng và chuỗi cung ứng chưa ổn định hoàn toàn, việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao trở thành một thách thức lớn, nhất là với những nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam.
Trước hết cần ưu tiên ổn định vĩ mô. Bởi chỉ có môi trường vĩ mô ổn định, các chỉ số, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm mới tạo được niềm tin, động lực cả đầu tư lẫn tiêu dùng.
Cuối năm 2025, nhiều dự án, công trình trọng điểm đã được đồng loạt khởi công, nên vấn đề cốt lõi của đầu tư công trong năm 2026 là tập trung bảo đảm chất lượng, tiến độ và hiệu quả của các công trình đã khởi công, sớm đưa dự án vào khai thác, tránh tình trạng chậm tiến độ, đội vốn hoặc đình trệ.
Đầu tư công cần tập trung vào hạ tầng số, hạ tầng xanh và các nền tảng thể chế, để kích hoạt khu vực tư nhân. Thực tế, tỷ lệ đầu tư trên GDP của Việt Nam đạt trên 30% nhưng đầu tư tư nhân vẫn còn nhiều dư địa chưa được khai phá. Đây là vấn đề của niềm tin, thể chế và môi trường kinh doanh.
Việc tạo được một môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi, giảm các thủ tục, giảm phiền hà, bất định trong chính sách và thực thi chính sách là điều hết sự quan trọng. Điều này sẽ tạo dựng lòng tin và giúp cho các chủ thể kinh tế, kể cả đối với nhà đầu tư nước ngoài lẫn đầu tư tư nhân trong nước dám chấp nhận rủi ro để mở rộng sản xuất kinh doanh, huy động các nguồn lực, nhất là nguồn lực vốn.
Với FDI, làm sao chuyển từ “lượng” sang “chất”, tăng cường liên kết với DN trong nước, nâng cao năng lực công nghiệp hỗ trợ và chuyển giao công nghệ thực chất hơn.
Bên cạnh vừa củng cố các động lực truyền thống, tiếp tục phát huy "cỗ xe tam mã" (xuất khẩu - đầu tư - tiêu dùng), cần đẩy mạnh động lực mới đến từ kinh tế số, kinh tế xanh và nâng cao năng suất lao động. Nếu năng suất lao động xã hội có thể tăng quanh 8 - 9%/năm, kết hợp với mở rộng quy mô đầu tư và thị trường, tăng trưởng cao sẽ có nền tảng thực chất hơn.
Ông đánh giá triển vọng các động lực tăng trưởng mới thế nào?
- Năm 2025 đã chứng kiến sự chuyển dịch bước đầu sang mô hình tăng trưởng mới (dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế tri thức) ở cả khu vực DN tư nhân và khu vực công.
Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới cho thấy các nền kinh tế mới nổi khi chuyển sang mô hình kinh tế số có thể tăng thêm 1,5 - 3 điểm phần trăm tăng trưởng nhờ cải thiện năng suất và hiệu quả phân bổ nguồn lực.
Các giải pháp mới như xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sand box) cho các mô hình kinh tế mới (đặc khu kinh tế, trung tâm tài chính quốc tế, khu vực thương mại tự do…), tạo hành lang pháp lý cho những vấn đề mới, phi truyền thống (trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh…); xác lập mô hình tăng trưởng mới lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực chính; thực sự coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế…
Điều này phù hợp với bối cảnh Việt Nam, nơi các trung tâm tài chính quốc tế, thị trường carbon, sandbox blockchain và các cơ chế mới về trái phiếu, đô thị thông minh, tài sản số đang hình thành, tạo ra một hệ sinh thái mới có sức kéo tổng hợp.
Việc triển khai hiệu quả Nghị quyết 57- NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; việc Quốc hội thông qua Luật Trí tuệ nhân tạo, Luật Công nghệ cao (sửa đổi), Luật Chuyển đổi số (sửa đổi) là những minh chứng quan trọng.
Tuy nhiên, quá trình này diễn ra vẫn chậm, còn nhiều dư địa để đẩy mạnh. Theo tính toán, để đạt mục tiêu tăng trưởng 10% trong giai đoạn 2026 - 2030, tốc độ tăng năng suất lao động cần đạt khoảng 8,5%/năm, và hiệu quả tổng hợp (TFP) phải đạt khoảng 5,5 - 6%.
Hệ sinh thái công nghiệp còn hạn chế, khả năng làm chủ công nghệ lõi như AI, bán dẫn, 5G còn yếu, và tình trạng thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao. Khi có nguồn nhân lực chất lượng cao thì mới đủ sức phát triển KH-CN và tạo nên động lực phát triển mới, là lợi thế cạnh tranh cốt lõi của đất nước.
Bước sang năm 2026, nhiều dự báo cho thấy rủi ro lạm phát vẫn đang chực chờ? Mục tiêu tăng trưởng GDP 10% tạo thêm sức ép lên giá cả khi tổng cầu đầu tư và tiêu dùng gia tăng?
- Việc lạm phát được kiểm soát ở mức 3,31% tiếp tục khẳng định công tác điều hành chính sách tiền tệ - tài khóa ngày càng phát huy hiệu quả. Đây là một điểm rất quan trọng, bởi trong bối cảnh toàn cầu còn chịu tác động của xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng cục bộ và xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng, áp lực "nhập khẩu lạm phát" là không nhỏ. Giữ được mặt bằng giá ổn định không chỉ giúp củng cố niềm tin của người dân và DN, mà còn tạo dư địa chính sách cho những năm tiếp theo.
Dư địa nới lỏng không còn nhiều, nhưng yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng cao buộc chính sách tiền tệ phải giữ lãi suất ở mức đủ thấp và ổn định. Trọng tâm điều hành vì thế sẽ không nằm ở việc “hạ hay tăng lãi suất”, mà ở khả năng phối hợp chính sách, kiểm soát rủi ro và nâng cao hiệu quả truyền dẫn của tín dụng đối với tăng trưởng thực chất của nền kinh tế.
Chuyển định hướng tín dụng từ số lượng sang chất lượng. Cần ưu tiên “chất lượng dòng tiền” hơn “số lượng dòng tiền”, tín dụng phải chảy vào sản xuất - kinh doanh, dự án có dòng tiền thật và khả năng trả nợ thật; hạn chế tối đa việc dòng tiền rẽ sang đầu cơ tài sản.
Trong khi đó, chính sách tài khóa phải đóng vai trò chủ đạo trong hỗ trợ tăng trưởng. Khi tín dụng “hẹp” lại, Chính phủ cần đẩy mạnh giải ngân đầu tư công (dự kiến 1,1 triệu tỷ đồng) để bù đắp thiếu hụt nguồn cung vốn cho nền kinh tế, nhưng phải gắn với kỷ luật ngân sách và hiệu quả đầu tư công.
Phát triển thị trường trái phiếu; các trung tâm tài chính là những kênh dẫn vốn mới, giúp giảm bớt sự phụ thuộc quá mức của DN vào tín dụng ngân hàng truyền thống, đồng thời thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo phát triển mạnh mẽ.
Quan trọng hơn, cải cách thể chế, tháo gỡ các điểm nghẽn về đất đai, đầu tư, thị trường vốn và môi trường kinh doanh sẽ giúp giải phóng nguồn lực đang bị ách tắc mà không tạo thêm áp lực lạm phát.
Xin cảm ơn ông!






