Trao đổi với PV Báo KT&ĐT, TS Nguyễn Đức Độ, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính (Học viện Tài chính) cho rằng, bước sang năm 2026, áp lực tỷ giá vẫn hiện hữu nhưng dự kiến nhẹ hơn so với năm 2025, trong bối cảnh NHNN kiểm soát tăng trưởng tín dụng chặt hơn và mặt bằng lãi suất có xu hướng nhích lên.
Ngay từ đầu năm 2026, lãi suất đã tiếp tục tăng, nguyên nhân do đâu, thưa ông?
- Lãi suất tăng mạnh là do 2 nguyên nhân chính: nhu cầu về tín dụng tăng mạnh và nhu cầu gửi tiền cho ngân hàng của người dân giảm.
Tín dụng đã tăng cao trở lại trong những tháng gần đây, chủ yếu do nhu cầu vốn phục vụ sản xuất - kinh doanh giai đoạn cao điểm cuối năm. Đây là thời điểm DN các lĩnh vực thương mại, xuất nhập khẩu, sản xuất hàng tiêu dùng, dịch vụ… đẩy mạnh hoạt động để đáp ứng nhu cầu thị trường dịp lễ Tết, dẫn đến nhu cầu bổ sung vốn lưu động tăng.
Nhu cầu vốn của nền kinh tế được dự báo sẽ tiếp tục tăng mạnh trong 5 năm tới cho giai đoạn bứt phá tăng trưởng kinh tế 2 con số giai đoạn 2026 - 2030. Để đạt được mục tiêu này, Việt Nam phải huy động được một nguồn vốn cho đầu tư phát triển lớn hơn và phải sử dụng vốn hiệu quả hơn rất nhiều so với quá khứ.
Mục tiêu nâng tỷ lệ tổng vốn đầu tư toàn xã hội/GDP từ 32% lên 40% được đặt ra. Trong bối cảnh đó, tăng trưởng tín dụng năm 2026 được dự báo tăng. Tuy nhiên, dòng tiền gửi lại đang có xu hướng dịch chuyển sang các kênh đầu tư kém thanh khoản hơn như vàng, USD và bất động sản, khiến tốc độ vòng quay vốn trong nền kinh tế chậm lại, buộc các ngân hàng phải tăng lãi suất huy động để giữ và thu hút nguồn vốn.
Bên cạnh đó, áp lực còn đến từ sự mất cân đối kéo dài trong cấu trúc kỳ hạn giữa huy động và cho vay. Hiện nay, tiền gửi ngắn hạn, chủ yếu dưới 6 tháng, vẫn chiếm tới 80% tổng tiền gửi toàn hệ thống, trong khi nhu cầu vốn trung và dài hạn, đặc biệt cho các kế hoạch đầu tư hạ tầng lại ở mức rất lớn. Sự lệch pha này làm gia tăng nguy cơ thiếu hụt vốn dài hạn, qua đó tạo thêm sức ép lên lãi suất huy động ở các kỳ hạn dài.
Lãi suất hiện nay tăng có đáng lo? Không ít ý kiến để ngỏ khả năng điều hành chính sách tiền tệ sẽ đảo chiều năm tới, thay vì tiếp tục duy trì xu hướng nới lỏng do còn nhiều nhân tố đẩy lãi suất lên cao hơn là suy giảm. Ông nghĩ sao về quan điểm này?
- Một trong những biến số khiến nhà đầu tư băn khoăn nhất cho năm 2026 là lãi suất huy động có thể tăng mạnh. Tuy nhiên, tốc độ tăng lãi suất huy động hiện nay phù hợp với diễn biến thị trường. Đây là xu hướng tăng từ mặt bằng nền thấp của lãi suất huy động giai đoạn trước. Tăng lãi suất huy động sẽ giúp kênh tiền gửi tiết kiệm trở nên hấp dẫn hơn và nhà đầu tư quay lại kênh tiền gửi tiết kiệm nhiều hơn, nhất là trong bối cảnh các kênh đầu tư khác rủi ro lớn, không phù hợp với số đông người dân.
Vừa qua, lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng có xu hướng đi lên rõ rệt hơn. Tuy nhiên đây là hiện tượng sức ép thanh khoản trong ngắn hạn, chứ không phải là chủ trương “thắt chặt” của nhà điều hành. Bằng chứng là NHNN Việt Nam đã kịp thời can thiệp bằng cách bơm thanh khoản trở lại thị trường thông qua nghiệp vụ thị trường mở. Động thái này đã giúp ổn định thanh khoản, kéo lãi suất hạ nhiệt và đưa thị trường trở lại trạng thái bình thường.
Hiện, trên thị trường, lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại tăng, đặc biệt là có sự tham gia của nhóm “Big 4”, trong khi lãi suất cho vay trên thị trường cũng có xu hướng nhích nhẹ. Lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực rủi ro như bất động sản thương mại trong năm 2026 có thể phải chấp nhận mức 10 - 12%, thậm chí là 14%. Bên cạnh đó, nhiều công ty chứng khoán bắt đầu điều chỉnh lãi suất cho vay ký quỹ tăng thêm 0,5%/năm so với mức hiện tại, áp dụng cho tất cả các khách hàng. Trên thị trường, mức lãi suất cho vay ký quỹ 14%/năm hiện không còn hiếm gặp.
Tất nhiên, động thái nói trên có thể hiểu là nắn dòng vốn đi đúng hướng, nhằm hạn chế dòng vốn đi vào lĩnh vực bất động sản, tập trung nguồn vốn cho những lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ.
Về dài hạn, Việt Nam vẫn có những thuận lợi, việc nhiều ngân hàng trung ương lớn trên thế giới giảm lãi suất giúp Việt Nam có điều kiện thuận lợi trong điều hành tỷ giá và lãi suất. Nếu Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) giảm thêm lãi suất USD trong tháng 12 tới thì lãi suất trong và ngoài nước không còn quá chênh lệch.
Có một điểm đáng lưu ý, dù Chính phủ đặt ngưỡng chấp nhận CPI cao hơn trong giai đoạn 2026 - 2030 (khoảng 4,5%), song chưa thấy dấu hiệu lạm phát tăng mạnh nếu không xuất hiện cú sốc giá hàng hóa toàn cầu, do đó, nhiều khả năng NHNN sẽ chưa tăng lãi suất điều hành.
Tỷ giá từ đầu năm đã dịu bớt. Ông đánh giá thế nào về những biện pháp giảm căng thẳng tỷ giá, của NHNN giữ sức mạnh đồng nội tệ năm 2025 và xu hướng sắp tới?
- Năm 2025, NHNN điều hành tỷ giá diễn biến linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường, góp phần hấp thu các cú sốc bên ngoài; đồng thời, phối hợp đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ, lãi suất, thanh khoản VND và bán can thiệp ngoại tệ nhằm ổn định thị trường ngoại tệ, tỷ giá, qua đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát. Lãi suất USD hạ nhiệt đang được nhiều bên kỳ vọng cho câu chuyện giúp tỷ giá bớt đi phần nào áp lực.
Diễn biến giảm đồng loạt cho thấy áp lực hạ nhiệt của USD trên thị trường trong nước đang khá rõ nét, phù hợp với xu hướng suy yếu của đồng bạc xanh trên thị trường quốc tế. Tỷ giá USD tại ngân hàng nhiều khả năng tiếp tục đi ngang hoặc giảm nhẹ trong ngắn hạn, thay vì quay lại xu hướng tăng mạnh.
Đáng chú ý, việc NHNN tiếp tục hạ tỷ giá trung tâm được xem là động thái tạo dư địa để các ngân hàng thương mại linh hoạt điều chỉnh tỷ giá theo hướng giảm, đồng thời góp phần duy trì sự ổn định chung của thị trường ngoại hối trong bối cảnh biến động toàn cầu vẫn hiện hữu.
Áp lực tỷ giá giảm, nền kinh tế lợi gì, thưa ông?
- Tỷ giá VND/USD giảm áp lực tăng mặt bằng lãi suất. Khi “nút thắt” tỷ giá được tháo gỡ, lãi suất vận động linh hoạt hơn cho tăng trưởng và chất lượng tín dụng tiếp tục được cải thiện.
Tỷ giá giảm sẽ mở thêm dư địa cho nhà điều hành trong linh hoạt và hỗ trợ thanh khoản để bảo đảm vốn với chi phí phù hợp trong giai đoạn các ngân hàng rất cần nguồn vốn.
Tỷ giá giảm góp phần hỗ trợ nhiều nhóm DN giảm chi phí. Tỷ giá giảm, các DN xuất khẩu có thể giảm nguồn thu, nhưng sự hạ nhiệt của tỷ giá giúp gia tăng sản xuất trong nước và góp phần kiểm soát lạm phát.
Từ góc độ thị trường ngoại tệ có sự phân hóa, với tỷ giá trung tâm và tỷ giá tại các NHTMCP đều ghi nhận mức giảm nhẹ, phản ánh xu hướng ổn định trở lại của tỷ giá trong hệ thống ngân hàng.
Xu hướng giảm lãi suất của Fed được xem là cơ sở giúp tỷ giá USD/VND duy trì biên độ ổn định hơn. Điều này sẽ hỗ trợ đáng kể cho hoạt động xuất nhập khẩu, củng cố niềm tin của nhà đầu tư và tạo nền tảng cho các quyết sách kinh doanh dài hạn.
Dự trữ ngoại hối hiện vẫn ở mức thấp so với chuẩn an toàn, đồng thời nhu cầu USD tăng mạnh do thanh toán và nhập khẩu nguyên liệu hàng hóa sẽ là thách thức tiềm ẩn?
- Đây cũng là điều đáng lưu ý, hiện dự trữ ngoại hối còn mỏng, Việt Nam là nền kinh tế mở, do đó, chính sách tiền tệ của Việt Nam vẫn phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của Fed. Chúng ta chỉ có thể nới lỏng hạ lãi suất hoặc bơm tiền vào nền kinh tế nếu như chính sách của Fed cũng là nới lỏng.
Bên cạnh đó, tâm lý đầu cơ và nhu cầu nắm giữ USD trong dân cư vẫn ở mức cao, đặc biệt trong bối cảnh biến động của giá vàng quốc tế. Ngoài ra, cuối năm và đầu năm mới cũng là thời điểm nhu cầu USD tăng mạnh do thanh toán và nhập khẩu hàng hóa, nguyên liệu.
Trong điều hành chính sách tiền tệ thời gian tới, NHNN sẽ ưu tiên mục tiêu nào?
- NHNN xác định trọng tâm “ổn định vĩ mô và kiểm soát lạm phát”. Đây được xem là điều kiện tiên quyết.
Sau một năm 2025 tăng trưởng tín dụng “nóng”, định hướng điều hành năm 2026 của NHNN được xác định theo hướng cân bằng và thận trọng hơn. Mục tiêu tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống dự kiến quanh mức 15%, thấp hơn đáng kể so với năm trước.
Tăng trưởng tín dụng giai đoạn 2026 - 2030 buộc phải chuyển sang chiều sâu, gắn với tái cấu trúc nguồn vốn, nâng cao hiệu quả phân bổ và kiểm soát rủi ro hệ thống.
Hiện các chỉ số về nợ công khá an toàn của Việt Nam cho thấy dư địa chính sách tài khóa vẫn ở mức tương đối rộng. Mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào mở rộng tín dụng đang tiệm cận giới hạn an toàn. Đến cuối năm 2025, tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam đã đạt khoảng 146%, tiệm cận giới hạn an toàn đối với một nền kinh tế mới nổi.
Xin cảm ơn ông!






