Vang mãi bản hùng ca bất diệt - Bài 4: Chủ công làm nên lịch sử

Hà Minh
Chia sẻ

Kinhtedothi - Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng với cả nước, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Thủ đô đã trở thành chủ công trong cuộc chiến 60 ngày đêm lịch sử, viết nên một bản anh hùng ca mùa Đông bất tử.

Vang mãi bản hùng ca bất diệt - Bài 1: Tiếng gọi của non sông

Vang mãi bản hùng ca bất diệt - Bài 2: Nhớ những ngày khói lửa hào hùng

Vang mãi bản hùng ca bất diệt - Bài 3: Ký ức từ những địa danh lịch sử

Cuộc chiến không cân sức

Theo Hiệp định Sơ bộ, thực dân Pháp được đưa 15.000 quân ra Bắc Vĩ tuyến 16 (trong đó có 5.000 quân đóng ở Hà Nội) để làm nhiệm vụ tiếp phòng cùng với lực lượng vũ trang của ta thay cho gần 20 vạn quân Tưởng rút về nước. Nhưng với dã tâm tái chiếm toàn bộ nước ta, tới cuối tháng 10 năm 1946, số quân Pháp ở Bắc Vĩ tuyến 16 đã lên đến 30.000 quân và riêng ở Hà Nội là 6.500 quân. Vũ khí có 5.000 súng trường, 600 tiểu liên, 150 trung liên và đại liên, 42 khẩu pháo các loại, 22 xe tăng, 40 thiết giáp, 30 máy bay và một số tàu chiến trên sông. Đây là những vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại hơn hẳn ta nhiều lần. Ngoài ra, nhiều gia đình trong số 7.000 Pháp kiều cũng được trang bị vũ khí và tổ chức thành hàng trăm ổ chiến đấu độc lập rải ra các khu phố. Quân Pháp bố trí xen kẽ với ta, trong đó chúng chiếm giữ một số vị trí hiểm yếu, như Phủ Toàn quyền, Trường Bưởi, Đồn Thủy, Sân bay Gia Lâm... Sĩ quan, binh lính địch được huấn luyện chính qui, bài bản, được bảo đảm phương tiện thông tin hiện đại. Nhiều đơn vị của Pháp đã có kinh nghiệm chiến đấu trong Chiến tranh thế giới thứ Hai.
 Bộ đội ta vượt tường, tấn công địch ở phố Hàng Đường, Hà Nội năm 1946.   Ảnh tư liệu

Về phía ta, đối phó với hành động của thực Pháp, ngày 19/10/1946, Hội nghị Quân sự toàn quốc của Đảng họp đã nhận định “Không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp”. Đồng thời quyết định chia lại cả nước thành 12 chiến khu. Khu đặc biệt Hà Nội được đổi tên là Chiến khu 11 với 5 tiểu đoàn Vệ quốc đoàn, 1 đại đội cảnh vệ, 4 trung đội pháo cao xạ ở các pháo đài Láng, Xuân Canh, Thổ Khối, Xuân Tảo, với tổng quân số là 2.516 người, được trang bị 1.516 súng trường, 3 trung liên, 1 đại liên, 1 bazôka 60 ly, 1.000 lựu đạn, 80 bom ba càng… Như vậy, quân số của Pháp hơn gấp 2,6 lần quân ta, vũ khí, trang bị, phương tiện kỹ thuật hiện đại và lớn hơn nhiều lần lực lượng của ta.

Trước đó, ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Đảng bộ Hà Nội đã chủ động xây dựng và tổ chức được đội ngũ những chiến sĩ cộng sản với hơn 500 đảng viên và lực lượng quần chúng đông đảo ở các đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh. Được giáo dục và rèn luyện trong thời kỳ đầy gian nan, thử thách của cách mạng, mỗi đảng viên đều vững vàng, nêu cao vai trò tiền phong, gương mẫu, tinh thần chiến đấu, hy sinh quên mình vì độc lập dân tộc; luôn gắn bó máu thịt với Nhân dân, tuyên truyền, vận động, tổ chức để Nhân dân thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ quan trọng trong kháng chiến.

Viết tiếp bản hùng ca

Quyết giành quyền chủ động trong chiến tranh, phá tan ngay từ đầu âm mưu đánh úp của thực dân Pháp, theo phương án đã được Bộ Tổng Chỉ huy phê duyệt, 20 giờ 3 phút ngày 19/12/1946, khi đèn điện vụt tắt, quân dân Hà Nội đồng loạt tiến công 21 vị trí quân Pháp đóng quân và hoàn toàn làm chủ tình thế, dựa vào công sự, chiến lũy và thế liên hoàn của các căn nhà, dãy phố, kiên cường chiến đấu gây cho địch nhiều tổn thất. Các chiến sĩ cảm tử quân ôm bom ba càng lao vào diệt xe tăng, thiết giáp, gây nên nỗi kinh hoàng cho quân Pháp. Hình ảnh dũng cảm, kiên cường của chiến sĩ cảm tử trở thành biểu tượng của ý chí “Cảm tử để cho Tổ quốc quyết sinh”. Mỗi căn nhà, mỗi góc phố, mỗi xóm làng từ nội thành đến ngoại thành Hà Nội thực sự là một pháo đài chiến đấu kiên cường, vững chắc.

Với hơn 100 trận đánh trong nội thành, quân Pháp chỉ chủ động tiến công ta khoảng 30 trận, còn lại, ta chủ động tiến công địch. Qua 60 ngày đêm chiến đấu, quân dân Thủ đô đã loại khỏi vòng chiến đấu gần 2.000 tên địch, phá hỏng 22 xe tăng và xe thiết giáp, 31 xe vận tải, bắn rơi và bắn hỏng 7 máy bay địch, bắn chìm 2 ca nô. Vừa đánh vừa phát triển lực lượng, ngày 6/1/1947, Trung đoàn Liên Khu 1 (tiền thân của Trung đoàn 102 - Thăng Long, Sư đoàn 308 ngày nay) được thành lập ngay trong lòng địch, tạo thêm niềm phấn khởi, tin tưởng không chỉ quân dân trên Mặt trận Hà Nội mà cho quân dân cả nước. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ giam chân địch, Trung đoàn Thủ đô đã thực hiện cuộc lui quân “thần kỳ”, rút khỏi TP trong vòng vây khép kín của kẻ thù, vượt qua sông Hồng, lên chiến khu an toàn.

Phát biểu tại Hội thảo khoa học cấp Quốc gia với chủ đề "Toàn quốc kháng chiến - ý chí bảo vệ độc lập, tự do và bài học lịch sử" - Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Ngô Thị Thanh Hằng đánh giá: Sự kiện Hà Nội quyết tử để Tổ quốc quyết sinh trong 60 ngày đêm năm 1946 đã đi vào lịch sử dân tộc như một bản anh hùng ca mùa Đông bất tử. Tầm vóc lớn lao và ý nghĩa sâu sắc của sự kiện lịch sử vĩ đại này soi rọi vào công cuộc đổi mới để hội nhập hôm nay. Phó Bí thư Thường trực Thành ủy nhấn mạnh: Tự hào về lịch sử hào hùng của dân tộc, từ bài học lịch sử của 60 ngày đêm kháng chiến bảo vệ Thủ đô, Đảng bộ TP Hà Nội hôm nay sẽ nêu cao tinh thần đoàn kết, thống nhất, đổi mới và sáng tạo, tập trung lãnh đạo thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, xứng đáng với truyền thống văn hiến, Thủ đô Anh hùng - TP Vì hòa bình, viết tiếp những trang sử vàng của Thủ đô và đất nước.

(Còn nữa)